Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Cận đại
5 bài trả lời: 4 bản dịch, 1 thảo luận
1 người thích

Đăng bởi hongha83 vào 27/09/2008 23:24, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 07/05/2010 10:45

元旦試筆言志

暄氣祛寒落酒邊,
醒看花色上簾鮮。
計旬應已稱強仕,
更事多慚尚少年。
癡拙此身多病態,
遭逢今日幸生緣。
閑來如早成初志,
買盡春山不用錢。

 

Nguyên đán thí bút ngôn chí

Huyên khí khư hàn lạc tửu biên,
Tỉnh khan hoa sắc thướng liêm tiên.
Kế tuần ưng dĩ xưng cường sĩ,
Canh sự đa tàm thượng thiếu niên.
Si chuyết thử thân đa bệnh thái,
Tao phùng kim nhật hạnh sinh duyên.
Nhàn lai như tảo thành sơ chí,
Mãi tận xuân sơn bất dụng tiền.

 

Dịch nghĩa

Khí ấm xua rét rơi xuống bên chén rượu
Tỉnh ra thấy màu hoa tươi vươn lên trên rèm
Kể tuổi thì đã đến tuần làm quan cứng cáp
Trải việc đời thì thường vẫn thẹn là con trẻ
Ngu si vụng dại, thân này nhiều thói xấu
Gặp gỡ như ngày nay là may được có duyên
Nếu từ lâu sớm có chí muốn nhàn tản
Thì mua hết núi xuân chẳng mất tiền


Nguồn: Thơ văn Nguyễn Cao, Phan Văn Các, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Văn Các

Khí xuân xua lạnh thoáng hơi men
Tỉnh dậy xem hoa nở thắm rèm
Kể tuổi làm quan đà lớp cứng
Thẹn khi gặp việc hãy đàn em
Thân này vụng dại thường hư nết
Thời buổi tao phùng bởi được duyên
Chí sớm ví mong nhàn tản thú
Núi xuân mua hết chẳng dùng tiền

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

về nguyên văn chữ Hán của bài thơ

Theo mình bạn nên bổ sung mấy điểm sau đây:

1. Tên chữ Hán của nhà thơ Nguyễn Cao là 阮高, tên hiệu là Trác Phong 卓峰 chứ không phải là Trác Hiên như phần tiểu sử tác giả đã nêu (Tác phẩm hiện còn của Nguyễn Cao là Trác Phong thi văn tập 卓峰詩文集).
2. Nguyên văn chữ Hán của bài thơ:

元旦試筆言志
暄氣祛寒落酒邊
醒看花色上簾鮮
計旬應已稱強仕
更事多慚尚少年
癡拙此身多病態
遭逢今日幸生緣
閑來如早成初志
買盡春山不用錢

Phần chữ Hán trên đây do mình đánh máy lại từ ảnh chụp nguyên bản được in kèm ở cuối cuốn sách do PGS. Phan Văn Các biên soạn. Về chữ thứ ba ở câu thơ thứ nhất, trong sách phiên âm là "như" nhưng mình xem bản gốc chữ Hán (chữ đá thảo nhưng vẫn khá rõ) thì đó phải là chữ "khư" 祛 (động từ có nghĩa là "trừ, đuổi" rất phù hợp với phần dịch nghĩa của PGS. Phan Văn Các). Mình cho là phần phiên âm trong sách in nhầm thành chữ "như". Vậy Câu 1 nên phiên lại là: "Huyên khí khư hàn lạc tửu biên".
3. Chuyển bài thơ vào nhóm "Trác Phong thi tập 卓峰詩集".


Nguồn: PGS. Phan Văn Các (Sưu tầm, phiên dịch và giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Cao, NXB KHXH, 1992.
Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Đuổi lạnh, Xuân nồng rớt chén tiên
Hoa tươi tỉnh thấy đậu trên rèm
Kể năm đã xứng làm quan lớn
Thật thẹn trải đời vẫn thiếu niên
Vụng dại thân này nhiều thói xấu
Ngày nay may gặp bởi nhân duyên
Hướng nhàn nếu định ngay từ sớm
Mua cả núi xuân chẳng phải tiền.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Hơi xuân xua lạnh men nồng
Tỉnh ra đã thấy màu bông trước rèm
Việc đời thẹn phận đàn em
Kể về tuổi tác làm quan xứng phần
Dại khờ nên khiến hư thân
Ngày nay gặp được may mình hữu duyên
Từ lâu sẵn bụng ưa nhàn
Núi xuân dành cả không tiền cũng mua

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Lạnh xua khí ấm bên hơi men,
Hoa thắm tỉnh ra vươn dưới rèm.
Kể tuổi làm quan đà cứng cáp,
Trải đời vẫn thẹn hãy đàn em.
Ngu si vụng dại, thân nhiều xấu,
Gặp gỡ hôm nay hưởng được duyên.
Có chí từ lâu mong rỗi rảnh,
Núi xuân mua hết chẳng hao tiền.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời