PHÂN LOẠI CÁC BẢN QUỐC NGỮ:

Tuy có nhiều bản quốc ngữ, sự thật chỉ có vài bản chính thức chung nguồn gốc một bản nôm mà do nhiều người phiên âm, hay chỉ là in lại. Để độc giả nhận rõ các bản đồng loại hay tương cận, chúng tôi làm bản tóm lược và phân loại:


A. LOẠI I. ĐẶC BIỆT

SƠN TRUNG:
Mở đầu
1.Vừa năm canh tý (1) xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa long câu (2) nghĩ đời
Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất (3) gian
5.Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chưng (4) giữ nước dân an thái bình

Kết thúc
280. Tiên bảo cùng sấm mỗi điều chép ra.
Khuyên người Nam Việt trai hiền,
Ai xem cho biết để mà làm công.

B. LOẠI II.

1. SỞ CUỒNG:
Mở đầu:
(1). Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ (1) tập tành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5. Trải vì sao mây che Thái Ất
Thủa cung tay xe nhật (2) phù lên
(280). Càng bền thế nước Vạn Xuân lâu dài.

Đoạn hai:
(281).Vừa năm nhâm tý xuân đầu...
(487. Đông Tây vô sự nam thành quốc gia.


2. WIKISOURCE 2010

Mở đầu
(1).Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao.

Đoạn hai:
Vừa năm nhâm tý xuân đầu
Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
Quyển vàng mở thấy sấm trời
Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian.

Bài 2 WIKISOURCE

CẢM ĐỀ
Thanh nhàn vô sự là Tiên,
Năm hồ phong nguyệt nổi thuyền buông chơi....
... 486 - Hiệu xưng thiên hạ thái bình
487 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia.


C. LOẠI III: CÁC BÀI THƠ, CÁC CÂU SẤM VỸ

Trong Phùng Thượng Thư Ký, chúng ta thấy có những bài thơ ngắn. Loại C và D cũng giống vậy nhưng C và D phần lớn là sấm ngữ trong dân gian.

Bài 1. TRỊNH VÂN THANH

Mở đầu
1- Thanh nhàn vô sự là tiên
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi
....
15- Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Kết thúc
259- Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

2. HOÀNG XUÂN
Mở đầu
1.Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói toả...

Kết thúc
Bài 12
.Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân.
Ðến thời thiên hạ vô quân,
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.

3. HUỲNH TÂM
Mở đầu
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói toả..

Đoạn hai:
Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Ðinh, Lê, Lý, Trần thưở trước.
Ðã bao lần ngôi nước đổi thay,
Kết thúc
Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

4. THỜI TẬP

Mở đầu
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Nấm mồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói toả..

Đoạn hai:
Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Ðinh, Lê, Lý, Trần thưở trước.
Ðã bao lần ngôi nước đổi thay,
Kết thúc
Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

5. PHẠM ĐAN QUẾ:
Mở đầu
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi.

Đoạn hai:
1. Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Kết thúc
Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.

Thấy sấm từ đây chép vào,

Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

D.LOẠI IV. CÁC CÂU SẤM KÝ NGẮN

1.NGUYỄN VĂN SÂM:
Bài này gồm các câu sấm ký ngắn được truyền tụng trong dân gian.

Mở đầu
1. Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng

Kết thúc bài thơ số XIV.
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa.

2.HƯƠNG SƠN

Gồm nhiều bài thơ

Nước Nam thường có thánh tài (tr.48)
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thuỷ nọ Đao sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho.

Kết thúc
Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây.

3. NGUYỄN QUÂN

Mở đầu
Nước Nam thường có thánh tài (tr.48)
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thuỷ nọ Đao sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho.

Kết thúc
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
107 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia.


NHẬN XÉT CÁC LOẠI

1. LOẠI I. HỆ ĐẶC BIỆT:
(1) BẢN SƠN TRUNG

Bản này có nhan đề là TRÌNH QUỐC CÔNG KÝ. Bản này thuộc loại đặc biệt, vì có bản nôm gốc tại gia đình cụ Nghè Bân là một thế gia vọng tộc, và có thể là có liên hệ gần gũi với Trình Quốc công. Bản này đã có trên trăm năm nay mới có dịp xuất hiện có thể coi như bản chính thức và chân thực vì người phiên âm và nghiên cứu luôn tuân thủ sự thực. Để tiện cho việc tìm hiểu của độc giả, chúng tôi đã in theo các bản nôm.
Bản này ngắn nhất so với các bản. Các bản khác dài hơn có thể là người ghi chép các bản khác nhau của Trạng Trình hoặc một trong hai ba bản là của tác giả khác.
Bản này có nhiều điểm giống bản của Sở Cuồng.
Bản này là bản thứ hai của bản Sở Cuồng. Điều này cũng cho ta biết bản Sở Cuồng là bản chính. Và bản Sở Cuồng và vài bản khác vốn là hai bản mà chép chung trong một tập.
Bản Sở Cuồng ghi:"Vừa năm nhâm tí xuân đầu" trong khi bản nôm Trình Quốc Công ký (bản Sơn Trung) khi là "Vừa năm canh tí xuân đầu".
Các bản ghi giáp tí, nhâm tí nhưng bản này ghi canh tí. Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 sinh 1491 và mất năm 1585. Canh tí là năm 1540, nhâm tí là 1552; giáp tí là 1564. Năm canh tí là lúc ông 50 tuổi.

Bản Sơn Trung dài 282 câu. Nhưng chỉ giống bản Sở Cuồng 100 câu, từ câu 1 đến câu 100.
"Khuyên người Ðông Bắc Tây Nam'
100. Muốn làm tướng suý thì xem sấm này.

Từ câu 101 đến 282 thì không giống bản nào cả.

(2). NGUYẼN QUÂN
Bản này thuộc hạng đặc biệt vì phần đầu giống hạng D nhưng phần sau, từ câu 41 trở đi có một số câu giống hạng B Sở Cuồng. Nói tóm lại, bản Nguyễn Quân là thu gọn hai loại C và D. Có lẽ do người đời sau muốn đơn giản Sấm Ký Trạng Trình.

(3). MINH ĐIỀN: Lấy loại B che đầu và cuối để phần giữa chế tác.
-Sấm Ký MINH ĐIỀN Mở đầu (1).Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu/ Một câu là một nhiệm màu/Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao.
Kết thúc: 486 - Hiệu xưng thiên hạ thái bình/ 487 - Đông tây vô sự nam thành quốc gia.
Bản này chỉ là xáo trộn các câu, các đoạn để che đậy bản ý của tác giả nằm rải rác trong văn bản.

(4). GIẢNG XƯA BỬU SƠN KỲ HƯƠNG:
Mưọn danh Sấm Trạng Trình mà nói lên tiên tri và ý tưởng của mình về tương lai đất nước. Loại này có đã lâu, có lẽ trước 1945.

B. DÒNG II.THƠ LỤC BÁT

Dòng này có các bản sau: SỞ CUỒNG, MAI LĨNH, ĐẠI LA,
WIKISOURCE, WIKIPEDIA

Loại này khởi đầu bằng câu:

Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ tập tành nên câu
Một câu là một nhiệm màu
Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5. Trải vì sao mây che Thái Ất
Thủa cung tay xe nhật phù lên

Và kết thúc bằng câu:
Tướng thần hệ xuất y chu
Thứ ky phục kiến Ðường ngu thi thành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
487.Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia.


C. DÒNG III. CÁC CÂU SẤM VỸ NGẮN.

Dòng này gồm có các bản sau: HOÀNG XUÂN, TRỊNH VÂN THANH, HUỲNH TÂM
THỜI TẬP, PHẠM ĐAN QUẾ, WIKISOURCE BẢN 2...

Ngoài phần mở đầu, phần chính gồm các câu sấm ký truyền tụng trong dân gian.

Khởi đầu bằng:
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Ðầu non mây khói toả..

Kết thúc bằng:
Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.
Hoặc
Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân.
Ðến thời thiên hạ vô quân,
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.

Nội dung thu gom các câu sấm ký trong dân gian cho nên nhiều câu sấm ký khác nhau, dài ngắn khác nhau cho nên câu cuối cũng khác nhau.
Đặc biệt dòng Sấm Ký loại này là sau đoạn khởi đầu là những bài sấm ký ngắn được truyền tụng trong dân gian từ khởi đầu đến Nguyễn như:
Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

129- Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành

Loại C và D giống nhau về kết cấu, và loại này cũng giống Phùng Thượng Thư ký là gồm những câu sấm vỹ trong quần chúng.

D. LOẠI III. CÁC CÂU SẤM NGỮ NGẮN.

Giòng này gồm các bản:
NGUYỄN VĂN SÂM, HƯƠNG SƠN

Loại này nội dung là các bài thơ, các câu sấm truyền trong dân gian từ khởi đầu cho đến nhà Nguyễn. Loại này khác với loại hai, có lẽ do người đời sau ghi chép các câu sấm ký mà tập thành. Loại này dài ngắn khác nhau, các câu sấm ký cũng khác nhau. Do đó câu kết không giống nhau gồm các bản sau:
Loại này khởi đầu bằng câu:


1. Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng

Và Kết thúc bằng bài thơ
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa.
Hoặc:
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Đông tây vô sự nam thành quốc gia.

Dòng Sấm Ký này gồm có bản Nguyễn Văn Sâm, bản này đáng tin cậy là không do các phe phái sau 1945 sửa đổi, nhưng bản nôm cũng không chắc là chính bản của Nguyễn Bỉnh Khiêm, mà là do các cựu nho đời Nguyễn ghi chép các câu sấm được dân chúng truyền tụng từ xưa cho đến đời Nguyễn, Cũng có thể do các cụ chế tác.

-Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong.
Nói về tương quan Trịnh Nguyễn
-Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
Nói về Nhà Tây Sơn
-Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nói về Nguyễn Ánh cầu viện Pháp nên mất nước vào tay Pháp.

Bản Nguyễn Văn Sâm và bản Hương Sơn là một gốc, nhưng bản Nguyễn Văn Sâm chép 14 bài thơ trong khi Hương Sơn có 26 bài mà có vài bài chép trùng nhau. 14 bài đầu hai bản giống nhau.

CHÚ Ý:
Chúng tôi chia bốn dòng Sấm Trạng Trình, nhưng dòng C và D có thể coi như cùng đồng loại vì nội dung là chép các câu sấm vỹ truyển tụng trong quần chúng. Tóm lại chỉ có hai dòng phổ biến là dòng B đại biểu là bản Sở Cuồng. Dòng C mà đại biểu là bản Trịnh Văn Thanh, và dòng D đại biểu là bản Hương Sơn.
Nói tóm lại, có ba giòng sấm ký phổ biến là bản Sở Cuồng, Trịnh Văn Thanh và Hương Sơn.
Bản Sở Cuồng và Hương Sơn đáng tin cậy vì có bản nôm bảo đảm. (Bản Hương Sơn có bản nôm Nguyễn Văn Sâm, bản Sở Cuồng có bản nôm Trình Quốc công ký của Sơn Trung mặc dầu chưa đầy đủ, chờ ngày thái lai, vạn sự sẽ kiết tường.)

-Sấm Ký WIKISOURCE, gồm hai bản, bản thứ nhất thuộc dòng Sở Cuồng, bản thứ hai thuộc dòng Hoàng Xuân, Trịnh Vân Thanh.


CÁC ĐOẠN GIỐNG NHAU TRONG CÁC BẢN

A. GIỐNG NHAU ĐOẠN DÀI

1. BẢN SỞ CUỒNG & PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ
Bản Sở Cuồng từ câu 1 đến câu 280 giống bàn Phùng Thượng Thư Ký từ câu 188 cho đến 464 mặc dầu khác biệt một vài chữ.

2. BẢN SỞ CUỒNG & TRÌNH QUỐC CÔNG KÝ
Bản Sở Cuồng ghi:"Vừa năm nhâm tí xuân đầu" trong khi bản nôm Trình Quốc Công ký (bản Sơn Trung) ghi là "Vừa năm canh tí xuân đầu".
Bản Trình Quốc Công ký dài 282 câu. Nhưng chỉ giống bản Sở Cuồng 100 câu, từ câu 1 đến câu 100.
Ta có thể nói bản Sở Cuồng là tổng hợp bản Phùng Thượng Thư Ký và Trình Quốc công ký (bản nôm Tiến sĩ Nguyễn Văn Bân) mặc dầu có vài đoạn, vài câu khác nhau.

B. GIỐNG NHAU VÀI CÂU

3. SỞ CUỒNG VỚI CÁC BẢN KHÁC:
Bản Sở Cuồng cùng hệ với bản Mai Lĩnh, Đại La, Wikisource. Wikipedia. Nếu so sánh với các bản giòng C (Hoàng Xuân, Trịnh Vân Thanh, Huỳnh Tâm,Thời Tập, Phạm Đan Quế, Wikisource 2, Nguyễn Văn Sâm, Hương Sơn, Nguyễn Quân), ta thấy giữa các bản này có những đoạn giống nhau.


Kìa cơn gió thổi lá rung cây
380.Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây
Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
Hưng địa tràng giang hoá nước đầy
385.. Một gió một yên ai sùng bái
Cha con người Vĩnh Bảo cho hay.

SỞ CUỒNG ĐOẠN I, 379- 386
TRỊNH VĂN THANH câu 61-68.
PHẠM ĐAN QUẾ: câu 11-15

Đoạn trên chỉ giống với các bản hệ C mà không giống với hệ D.


410. Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập trường an.

SỞ CUỒNG ĐOẠN II. 410-413
HOÀNG XUÂN:151-154.

HƯƠNG SƠN XXI, tr.64)
PHÙNG THƯỢNG THƯ

Đại Minh, An Nam triều hội.
160. Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thòi tiết khai hoa.
Nghi đáo ngưu đầu quá mã.
Hồ binh bát vạn hồi gia.(12)

-Thuỷ binh cờ xí vừng hồng...
Bắc binh sang có việc gì chăng?...
Đã ngu dại Hoàn Linh đời Hán...
(ML 83; HS 12)

PHÙNG THƯỢNG THƯ
265. Gà đâu gáy sớm bên tường
Chẳng yêu thì quái (cũng) bất tường chẳng không.
Thuỷ binh cờ phất vầng hồng
Bộ binh bát ngát (tấp nập) như ong kéo hàng (SC.84)
Ðứng (ngọ ngang) hiên ngang đố ai biết trước
270.Ấy Bắc binh sang việc dĩ chi (gì) chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ, tưng bừng đòi nay


Bảo Giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
SỞ CUỒNG ĐOẠN IV.417-418.
ĐOẠN V. 442. Phân phân tùng Bắc khởi
Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

HOÀNG XUÂN; 215- 218

PHÙNG THƯỢNG THƯ, 172-175
Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu tự đông chinh,
Bửu giang thiên tử xuất
175. Bất chiến tự nhiên thành.(14)

HƯƠNG SƠN XXV
Thơ rằng
1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành

HƯƠNG SƠN
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành


Bắc hữu kim thành tráng
Nam tạc ngọc bích thành
Hoả thôn đa khuyển phệ
Mục giả dục nhân canh
SỞ CUỒNG, 426-429


Bắc hữu kim thành tráng
Nam tạc ngọc bích thành
(AP,214; ML 426-427, HS, 9-10- 25)
TRỊNH VĂN THANH 227-228

HOÀNG QUÂN 213-214

Thuỷ trung tàng bảo cái....
Đông Tây vô sự nam thành quốc gia.
(ML 446-487; HS, 26)

-Uy nghi dung mạo khác mình
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
(AP 125, ML 141)

-Phá điền đầu khỉ cuối thu... Tái binh mọi giống thập thò liền sang.
(HS.16;ML 199)

-Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh.
..kiến thái bình.
(ML 398; HS 24, AP 171)

-Bách tính khổ tai ương... Đông tây vô sự nam thành quốc gia.
(ML467-487; HS 26)
-Bắc phương chính khí sinh ra/ Có ông Bạch xỉ (sĩ) điều hoà hôm mai.
(ML 135; HS16)
-Man mác một lĩnh Hoành Sơn/Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
(ML 195; HS 16)
-Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh/ Sông Bảo giang thiên định ai hay.
(ML 125, 257; HS 17)
Bắc kinh mới thật đế kinh/ Giấu thân chưa dễ giấu danh đục nào.
(ML 238; HS 16)
Quần hùng binh kéo đầy khe/ Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời...
Thương những kẻ ăn rau, ăn giới.
(ML 103; HS 16)
Canh tân (niên) tàn phá/ Tuất hợi phục sinh
(ML 395; HS 18)
Ma vương sát đại quỷ/ Hoàng thiên tru ma vương/Kiền khôn phú tái khôn lường
Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết/ Đảo Hoành sơn tam liệt ngũ phân.
(ML 475; HS 26)
-Phân phân đông (tùng) bắc khởi.. Bất chiến tự nhiên thành
(ML 443; HS 26)
-Tộ trường nhị thập ngũ/ Vận khải ngũ diên trường
(ML 462; HS 26)

-Xem ý trời có lòng khải thánh/ Dốc sinh ra điểu đỉnh hộ mai.
(AP 131, ML 131, HS 16)
-Có thầy Nhân thập đi về/ Tả phù hữu trì cây cỏ thành binh.
AP 231, (ML 261; HS 17)

-Phú quý hồng trần mộng,
Bần cùng bạch phát sinh
(AP209, ML 430; HS 25)

4. SO SÁNH CÁC BẢN KHÁC


Nước Nam thường có thánh tài/Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường.
(HS. 1; AP:105)

-Nực cười những lũ bàng quan/Cờ tàn lại muốn toan đường đấu xe
(AP 125; HS 26)


-Thái nguyên cận Bắc đường xa
(AP 123; HS 14; HS 14)

2. Các câu được giải thích để tuyên truyền:

(1). Thấy đâu bò đái thất thanh/ Ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng sai.(HS 14)
Một bản giải thích:
Ở Bắc Kạn có khe Bò Đái.
Một bản ghi:
Nghệ An Bò Đái thất thanh.
Một bản khác ghi:
Nam Đàn Bò Đái Thất thanh.
Trong quyển La Sơn Phu Tử, Hoàng Xuân Hãn có trích thơ Nguyễn Thiếp, bài Gặp người đánh cá ở sông PhùThạch, HXH nói đến câu ca dao
Đụn sơn phân giái/ Bò Đái thất thanh/ Đông Thành sinh thánh.
Huyện Đông Thành ở phủ Diễn châu, còn Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh ở huyện Nam Đàn, phủ Anh Đô. Chính trong bài thơ trên, Nguyễn Thiếp viết:
"Núi Liệt lở, Song Ngư nước cạn, /Sấm người xưa đánh lẫn dân ngu (tr.62)
Chữ Hán tên là Lao Tuyền, HXH nói tên tục là Bò Đái không biết có đúng không vì Lao Tuyền là Khe Bò mà thôi.


TÍNH CHẤT CÁC BẢN

Nhìn chung, các bản có chung một vài điểm sau:

1. Tính bí mật:
Sấm Ký mang tính cách bí mật thuộc phạm vi quốc cấm, phải cất kín cũng như Kim Cổ Kỳ Quan, Tứ Thánh, chỉ bàn bạc với người thân mà thôi. Thái độ của nhân dân đối Sấm Ký khác với Lục Vân Tiên và truyện Kiều. Ấy cũng bởi ngày xưa các nho sĩ dùng Sấm ký để chống triều đình, chống Pháp, mà bọn tay sai cũng dùng sấm ký vu oan giá hoạ cho dân lành cho nên quan quân đã bắt bớ dân chúng, và người ta phải cất giấu các tài liệu này.

2. Tính thiếu chân thực:
Thói quen của ta là tự tiện sửa chữa, thêm bớt các bản chính cho nên truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương đã bị tam sao thất bản.. Nhiều người sau này sửa sấm ký hoặc bóp méo văn nghĩa cho vừa khuôn khổ quyền lợi của phe nhóm họ. Riêng Sấm Ký Trạng Trình thì số phận gay go hơn, người ta phải giấu nó trong buị tre, hoặc trong mái nhà dưới lớp tranh, rơm rạ. Vì vậy mà dễ bị hư hao, mối mọt. Thực ra một số nhà cách mạng chống Pháp đã chế tác các câu sấm vỹ. Người ta bảo rằng chính cụ Phó bảng Nguyễn Can Mộng là người loan truyền những tin tức thất thiệt trong văn học như cụ đã viết ra văn tế cá sấu mà bảo là văn tế cá sấu của Nguyễn Thuyên. Người ta cũng bảo rằng chính cụ sáng tác ra câu:"Giữa năm hai bảy mười ba,/Lửa đâu mà đốt Tám Gà trên mây. (Wikisource)
Theo Nguyễn Đăng Mạnh, ông Hồ và bọn thủ hạ đã dùng tử vi, sấm ký chế tạo hàng mạo hoá để lừa bịp dân chúng trong khi chính họ cũng như ông Trần Văn Giáp kết tội người ta lợi dụng cái học của ông(Trạng Trình) truyền tụng nhiều câu sấm nói là của ông, để tuyên truyền và mê hoặc mọi người.Theo Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư luận quần chúng. (4)

3. Tính không thống nhất:
Có thể một người viết mà chia ra nhiều đoạn, do viết nhiều thời gian khác nhau. Có thể là do nhiều bản của nhiều người khác nhau mà người sau chép chung làm một tập. Như bản Mai Lĩnh ít nhất là hai tập khác nhau.

Một số là thu thập nhiều bài sấm ký khác nhau cho vào một tập như bàn Thiên Phúc Nguyễn Phúc Ấm do Hương Sơn xuất bản trước 1954, cho nên trong đó có nhiều bài thơ.
Có thể do nhiều gốc khác nhau. Cũng có kẻ cắt vài đoạn bỏ vào cái khuôn của mình để mập mờ đánh lận con đen trong chính sách tuyên truyền dối trá của họ. cũng có thể do phương cách làm việc chưa khoa học, nghĩ đến đâu, viết đến đó, nhiều khi trùng hợp, cái trước nói sau, việc sau nói trước.
Cũng có thể người ta tráo đoạn trước ra sau, đoạn sau lên trước để giữ bí mật, như đoạn cuối bản Mai Lĩnh: "Đào Tiền xử sĩ... nam thành quốc gia" nhưng trong bản Hương Sơn lại nằm gần cuối, dưới câu kết còn có 24 câu nữa (Phân phân đông bắc khởi... Gió mây ta lại đi về gió mây). Cũng có thể do sao chép lầm lẫn hay do trí nhớ lẫn lộn. Bài Phùng Thượng Thư ký từ câu 188 giống đoạn đầu của bản Sở Cuồng.
Sự kiện này gây khó khăn cho người nghiên cứu.

4. Tính mơ hồ:
Các bản có chỗ thần diệu nhưng cũng có chỗ mơ hồ, giống các bản của Sư Vải Bán Khoai, Huỳnh Giáo chủ và Thanh Sĩ... chỉ nói tí, sửu,dần, mẹo... rất mơ hồ trong khi các bản Kim Cổ Kỳ Quan và Tứ Thánh thì rõ ràng hơn.

Nguyễn Thiên Thụ
tửu tận tình do tại