Nhớ bà thuở buồng lan in chữ phận, ba tòng càng tổ dấu cân đai;
Cảm bà cơn cửa liễu rối tơ duyên, một tiết khôn lay lòng sắt đá.

Nết công dung ghi mảnh đá Côn Sơn;
Thuyền phúc đức chở dòng sông Bát Nhã.

Người thích thuộc muốn chiếu chăn cõi thọ, cửa từ hằng nên chữ đồng nhân;
Buổi cơ hoang mong no ấm dân trời, lượng bể sá đâu đường thực hoá,

Duyên vãng lai ơn trời đất đã dào;
Lòng ngưỡng mộ dẫu trẻ già cũng thoả.

Chốn quyến mẫu đắp bờ di ái, tưới móc mưa cho năm cõi mạo nghê;
Miền hương thôn tạc đá phối thần, gây nền nếp để muôn năm hương hoả.

Ngôi bắc trông sao vụ còn in;
Non tây phút cành dâu đã ngả.

Tuần thượng thọ tám mươi lẻ bốn, những mừng thấy xuân hoa xuân vũ, ngỡ phát phu còn lợi cái sinh linh;
Năm Tân Mùi mồng chín tháng hai, ai ngờ rằng vân giá vân hương, đem hài cốt trả về con tạo hoá.

Tưởng cơ dâu bê những thêm buồn;
Cảm đức non sông bao được trả.

Ôi!
Sương át chồi hoa;
Gió bay chiếc lá.

Bốn mặt nom vào hàng liễu yếu, tình tự kia nghĩ sau trước đã đành;
Nghìn thu trông lại nếp đình chùa, công đức ấy tưởng xưa nay ít có.

Dễ xui lòng khách chốn đăm đăm;
Dễ khiến mạch sầu tuôn phá phá.

Tử tính nay:
Tấc niệm bồi hồi;
Hai hàng lã chã.

Cám cảnh kinh trời nghĩa đất, chuốc ba tuần dâng trước mặt tuyền hương;
Tầm thường rau Giản nước Hoàng, làm một lễ gọi tấm lòng đồng xã.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 121, tháng 9-1927