Than rằng:
Xuân qua đông tới, gớm thay cơ huyền tạo phút xui;
Sinh gửi tử về, buồn nhỉ giấc hoàng lương sực tỉnh.

Biệt ly là truyện cũ thế gian;
Tu đoản vốn lâu xưa tiền định.

Nhớ thủa vun đồng xới liễu, bốn cù lao ân bể rộng thênh;
Chưng khi xẻ sữa san hồ, năm hữu nhượng khuôn nhà tròn vạnh.

Bốn phương dâu lá, rong ruổi chí trai;
Mười dặm cỏ cây, vẽ vời mặt cảnh.

Bạn tứ hải sum vầy sân Yến tử, cửa bồng thơm nức tiếng chi lan;
Thuyền ngũ hồ đủng đỉnh lái Đào công, sóng lợi sạch lâng hơi thị tỉnh.

Những chắc vững nền phúc thọ, dõi quy trù mà được chữ diên linh;
Nào ngờ khép cửa âm dương, điểm mã xỉ mới vừa tuần tri mệnh.

Cửa thần hôn rây giọt tuyết linh lung;
Non chiêm hỗ rủ hàng châu lóng lánh.

Thương một nỗi bố kinh khi ấy, chiếc bóng sương hiu gió quạnh, vẻ gương ngọc kính bỗng pha phôi;
Xót hai cành bồ liễu ngày xưa, nửa chừng nước chảy hoa trôi, cái phận hồng nhan sao mỏng mảnh.

Ôi!
Bóng tà cửa hẹp, ngựa thoắt ruổi chân;
Đất rộng đường dài, xe mau thoát bánh.

Doành Nhị thuỷ cánh buồm xuôi ngược, mất hình qua lại dạ ngùi ngùi;
Cõi Bồng hồ con yến chưng bưng, tưởng lối đi về lòng cạnh cạnh.

Nay:
Theo lễ tống chung;
Đặt tuần chí kính.

Vốn nghĩ gia đình còn nếp cũ, lễ ấy cũng mong như lễ trước, dám kể đâu là dị là xa;
Nài sao thuỷ hạn gặp phen này, lòng người không hiệp với lòng trời, chẳng lọ nói rằng bần rằng bệnh.

Cảm đội ân non nghĩa bể, hận muôn thu không thấu xuống tuyền đài;
Nhạt suông rau giản nước hoàng, nôm một bức ngõ dâng lên tôn thính,


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 125, tháng 1-1928