Than rằng:
Miền bích thuỷ xa xăm;
Bóng bạch câu thấm thoắt.

Cù lao chín chữ biết bao đền;
Khẽ khoát đôi hàng khôn kể xiết.

Nhớ thuở khúc hoàng xum họp, ngọc vàng tương hai phiếm sắt cầm;
Nhân khi trứng phượng nâng niu, mưa móc đượm sáu cành gia thất.

Đứng khuôn ngồi phép đủ trăm chiều;
Nói nghĩa cười nhân gìn một tiết.

Nên biểu suất vững vàng thập lý, ra tay vun vén nước non;
Hương hậu thần nghi ngút bốn mùa, để tiếng vẽ vời cảnh vật.

Tuổi Kiều Bành lần lữa hằng mong;
Thẻ Hải Ốc dần dà thêm giắt.

Những ước cặp xiêm vin chén thọ, đính Hồ vẫy đính Dĩ hương lừng;
Nào ngờ đôi phượng thét hồi tiêu, nhà xuân lẫn nhà huyên bóng nhạt.

Mái tư đình tuyết chở sương phai;
Lều biệt thất trắng mờ mây giát.

Một bóng tiểu tinh nhờ bóng nguyệt, luống tủi phận rễ cù ngọn cát, cành liên lý để lạnh lùng đã vậy, rồng theo nạ chút còn thơ yếu, sao dám chữ thiên so chữ chính, phận đơn hàn thương lá liễu le te;
Ba chồi đan quế một chồi đào, những ngại lòng nhà bạc cửa thưa, gánh gian nan mà hổ thẹn đã xong, chim đầu đàn nọ bỗng khơi chừng, vì đâu hàng tử hoá hàng tôn, việc trọng đại để cành non lướt mướt.

Tấc lòng dưỡng tử luống băn khoăn;
Chút phận chúng tôn càng thảm thiết.

Nghe văng vẳng tiếng hàn châm nện nhặt, mưa sầu chồi ngũ tử phất phơ;
Trông xa xa con phi yến về hôm, gió thảm trúc Tương quân hiu hắt.

Buổi ngộ thời nay mới theo đòi;
Lễ ninh xa xưa còn khiếm khuyết.

Tấc giấy vẽ lòng sao được, những ngập ngừng nghìn nỗi trăm đường;
Ba tuần theo thói gọi là, chút nhạt nhẽo dăm bàn ba bát.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 120, tháng 8-1927