Than rằng:
Ngẫm cõi tĩnh cõi trần là lối cũ, dưới âm minh tuy hồn vú rằng yên;
Cảm công sinh công dưỡng cũng đồng cân, trên dương thế phận con còn hổ.

Dặm nghìn non nước vú trông con;
Một khắc bể dâu con xót vú.

Thuở trứng nước nhai cơm vắt sữa, phong thể một ngày một khác, con nhờ vú gây nên tấm trưởng thành;
Lúc bèo mây đỡ gió che sương, giang sơn ba nổi ba chìm, vú vì con nếm đủ mùi tân khổ.

Ngày tháng mong tuổi vú lâu dài;
Bùi ngọt thoả lòng con báo bổ.

Bỗng xe hạc vội vàng, chẳng gắng lấy ít nhiều năm nữa, vú từ đây đường vãng phản đã không rồi;
Mà non tây cách diễn, nào kịp trao mảy chút nhời chi, con từ ấy nỗi ai tư khôn dứt bỏ.

Ôi!
Sườn núi hoa rơi;
Đầu tường cuốc rũ.

Thương bạch phát cũng nhiều oan truân kiển, đường túc thực phong y được mấy, bảy mươi thu chưa thoả vú tam sinh;
Ngán đào thơ mà gặp buổi phong trần, của dưỡng sinh tống tử lấy chi, tư tuần lẻ giận vì con bán độ.

Nay:
Nió cuốn cần phan;
Xe giong đường tổ.

Vú tuy đã đôi đường cách trở, công tam niên nghĩ nhớ lúc sơ sinh;
Con gọi là một triện kính dâng, lễ bát mẫu ngỏ theo lề thượng cổ.


Tiêu đề nghĩa là: Văn tế người vú nuôi của vợ thứ quê ở Tây Lĩnh.

Nguồn:
1. Nam Phong tạp chí, số 119, tháng 7-1927
2. Tác phẩm Xuyến Ngọc Hầu (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Trần Thị Băng Thanh, NXB Khoa học xã hội, 2006