湘江舟次

瀟湘流合入湖南,
走遍危灘五十三。
石盡山低松岸闊,
磯陳水帖蓼州涵。
戍塘寂寞迷樵徑,
古渡瀟疏問草庵。
地出粵西趨楚界,
關津到處靜煙嵐。

 

Tương giang chu thứ

Tiêu Tương lưu hợp nhập Hồ Nam,
Tẩu biến nguy than ngũ thập tam.
Thạch tận sơn đê tùng ngạn khoát,
Ky trần thuỷ thiếp liễu châu hàm.
Thú đường tịch mịch mê tiều kính,
Cổ độ tiêu sơ vấn thảo am.
Địa xuất Việt Tây xu Sở giới,
Quan tân đáo xứ tĩnh yên lam.

 

Dịch nghĩa

Tiêu, Tương hợp lại đổ vào Hồ Nam,
Chảy qua khắp năm mươi ba thác hiểm.
Núi thấp hết đá, bờ thông trải rộng,
Nước lặng ghềnh phơi, rau liễu tốt tươi.
Lẫn trong lối tiều phu, đường tuần thú vắng vẻ,
Trong khoảng am cỏ, bến cũ tiêu sơ.
Từ đất Việt Tây đến đầu đất Sở,
Cửa ải, bến đò đâu cũng lặng khói lam.


Nguyên chú: Hai châu Toàn và Vĩnh là nơi giáp giới hai đất Sở, Việt. Thuyền xuất phát từ Tô Gia Kiều huyện Hưng An đi tới ghềnh Hoàng Thạch có 53 thác hiểm. Đến huyện Linh Lăng thuộc Vĩnh Châu, hai sông Tiêu và Tương hợp lại, lòng sông rộng dần ra, hai bên bờ không có núi đá, chỉ có núi đất như nồi úp, không có chỗ nào cao lắm. Ghềnh không có hẻm, nước chảy bình thường không có xoáy dốc. Nơi đây chòi lính thú thưa thớt, đi cả ngày chỉ thấy một hai cái đã đổ nát không tu sửa, lại ở khuất trong lối mòn, chẳng có ai canh gác, khác hẳn với những đồn canh ở Việt Tây. Chắc là đất Việt nhiều trộm cướp, không được bình yên như ở đất Sở. Những nơi có bến đò ngang, thường thấy một vài nóc nhà tranh xiêu vẹo kể bên sông. Từ trên đường cái xuống bến có thôn trang, duyên đáng thanh nhã đáng yêu. Từ đây xuôi xuống Trường Sa, xa dần đất Việt Tây, núi xa sông rộng, không có rừng, xóm làng trù mật, sạch khói mù, nhiều ánh sáng. Thế mới biết, sách Vũ Cống có nói: “Đất Sở tuy là hoang phục, đất Việt lại còn ở ngoài cõi hoang phục.” Ngày nay từ Việt Tây đến nước ta đều là đô hội, đó là dần dần mở mang ra vậy.

Nguồn: Ngô Thì Nhậm toàn tập (tập III), NXB Khoa học xã hội, 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lâm Giang

Tiêu Tương dòng hợp đổ Hồ Nam,
Qua những hiểm nghèo, thác thập tam.
Đá hết chon non, thông rộng trải,
Ghềnh phơi nước lặng, liễu lan tràn.
Đồn canh vắng vẻ bên đường núi,
Bến cũ tiêu sơ dưới có am.
Địa thế Việt Tây qua đất Sở,
Bên đò cửa ải khói lam tan.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Tú Anh

Tiêu, Tương hợp lại đổ Hồ Nam,
Thác hiểm chảy qua ngũ thập tam.
Đá núi thấp dần thông giống thảm,
Nước gềnh lặng lại nghễ như sam.
Đường tuần vắng lẫn tiều phu lối,
Bến cũ hoang trùng khoảng cỏ am.
Từ đất Việt Tây về đất Sở,
Bến đò, cửa ải khói lam lam.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời