Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây, hoạ Trịnh Cấn Trai thứ lạp ông tam thập vận kỳ 2

Cô chu nhập Quảng nguyệt sơ đông,
Lục thuỷ du du khách tứ nùng.
Long mẫu miếu tiền hồng diệp lạc,
Việt vương đài thượng bạch vân phong.
Càn khôn di hận nhân hà tại,
Kim cổ lưu sầu thuỷ tự đông.
Sương mãn giang thiên gia vạn lý,
Kinh hồi lữ mộng ngũ canh chung.

 

Dịch nghĩa

Thuyền con vào Quảng đầu mùa đông,
Nước biếc man mác tứ khách nồng nàn.
Trước đền Long mẫu lá đỏ rụng,
Trên đài Việt vương mây trắng phong kín.
Trời đất còn lưu mối hận, người giờ ở đâu?
Cổ kim tuôn nỗi sầu, nước cứ chảy về đông.
Sương đầy trời sông, nhà xa muôn dặm,
Tiếng chuông canh năm khua tỉnh mộng nơi đất khách.


Nguồn: Gia Định tam gia, NXB Đồng Nai, 2006

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoài Anh

Thuyền con vào Quảng đầu đông,
Nước xnh xui tứ khách nồng nàn khơi.
Đền Long mẫu lá đỏ rơi,
Phau phau mây trắng phong dài Việt vương.
Người đi, để mối hận trường,
Xưa nay nước chảy một đường về đông.
Nhà xa, sương ngập trời sông,
Chuông khua tỉnh giấc mơ mòng về quê.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Thuyền con vào Quảng đầu đông,
Nước xanh xui khách hứng thêm nồng.
Trước đền Long mẫu nhiều lá rụng,
Trên đài Việt vương mây trắng phong.
Người ở đâu đất trời lưu hận?
Nỗi sầu kim cổ, nước về đông.
Sương đầy trời sông, nhà muôn dặm,
Đất khách tỉnh mộng chuông khua ròng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời