題太七日光復記其六

筆舌無功劍未成,
十年窮島暗吞聲。
鬱蔥佳氣河山在,
夜夜焚香祝後生。

 

Đề Thái Nguyên thất nhật quang phục ký kỳ 6

Bút thiệt vô công, kiếm vị thành,
Thập niên cùng đảo ám thôn thanh.
Uất thông giai khí hà sơn tại,
Dạ dạ phần hương chúc hậu sanh.

 

Dịch nghĩa

Dùng bút dùng lưỡi không thành, dùng gươm cũng chưa nên việc,
Mười năm ở chốn hoang đảo, âm thầm nuốt hận.
Núi sông do khí tốt chung đúc vẫn còn đó,
Đêm đêm (ta) đốt hương cầu chúc cho lớp người sau.


Nguồn:
1. Phan Văn Các, “Khí phách và tâm hồn nhà chí sĩ Ngô Đức Kế qua những vần thơ chữ Hán”, Tạp chí Hán Nôm, số 5(90), 2008
2. Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh nghĩa thục - Chương 12, NXB Văn hoá Thông tin, 2002

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Bị chả xong, gươm cũng dở dang.
Mười năm nín tiếng chốn cùng hoang.
Non sông un đúc người sau đấy,
Câu chuyện thường đêm cứ đốt hương.


Nguồn: Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1951
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Bút lưỡi không thành, gươm cũng không
Mười năm hoang đảo, hận ôm thầm
Non sông khí tốt còn chung đúc
Tối tối cầu hương chúc hậu sinh

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Bút lưỡi không thành, gươm cũng thua,
Mười năm hoang đảo, hận không vừa!
Núi sông khí tốt còn chung đúc,
Cầu nguyện đêm đêm hậu kế thừa.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đồng Thành

Không thành bút lưỡi cùng gươm,
Mười năm hoang đảo, hận vương chẳng vừa!
Núi sông khí tốt còn thừa,
Đêm đêm cầu nguyện kế thừa hậu sinh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời