Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Từ khoá: nhà nông (66)

Đăng bởi Hà Như vào 07/12/2012 15:52

田家語

誰道田家樂?
春稅秋未足。
里胥扣我門,
日夕若煎促。
盛夏流潦多,
白水高于屋。
水既害我菽,
蝗又食我粟。
前月詔書來,
生齒復板彔。
三丁藉一壯,
惡使操弓韣。
州符今又嚴,
老吏持鞭朴。
搜索雉與艾,
唯存跛無目。
田閭敢怨嗟,
父子各悲哭。
南畝焉可事,
寔踐賣牛犢。
愁氣變舊雨,
鐺缶空無粥。
肓跛不能耕,
死亡在遲速。
我聞誠所慚,
徒爾叨君祿。
卻詠「歸去來」,
刈心向深谷。

 

Điền gia ngữ

Thuỳ đạo điền gia lạc?
Xuân thuế thu vị túc.
Lý tư khấu ngã môn,
Nhật tịch khổ tiễn xúc.
Thịnh hạ lưu lạo đa,
Bạch thuỷ cao vu ốc.
Thuỷ ký hại ngã thúc,
Hoàng hựu thực ngã túc.
Tiền nguyệt chiếu thư lai,
Sinh xỉ phục bản lục.
Tam định tịch nhất tráng,
Ác sử thao cung độc.
Châu phù kim hựu nghiêm,
Lão lại trì tiên phốc.
Sưu sách trĩ dữ ngải,
Duy tồn phả vô mục.
Điền lư cảm oán ta,
Phụ tử các bi khốc.
Nam mẫu yên khả sự,
Thực tiễn mại ngưu độc.
Sầu khí biến cửu vũ,
Xanh phẫu không vô chúc.
Manh phả bất năng canh,
Tử vong tại trì tốc.
Ngã văn thành sỏ tàm,
Đồ nhĩ đao quân lộc.
Khước vịnh “Quy khứ lai”,
Ngải tân hương thâm cốc.

 

Dịch nghĩa

Ai bảo nhà nông vui thú
Thuế xuân sang thu rồi mà còn chưa đủ
Lý trưởng đến gõ cửa
Sớm hôm thúc giục nóng cả lòng
Cuối mùa hạ có nhiều mưa lụt
Nước trắng lút cả mái nhà
Nước đã làm mất đậu của ta
Kheo lại ăn lúa của ta
Tháng trước có chiếu vua về
Bắt khai nhân khẩu
Cứ ba đinh thì ghi tên một người khoẻ
Hăng hái giao cho đeo cung
Lệnh quan châu nay lại rất nghiêm
Viên lại già cầm roi quất
Bắt trẻ rồi lại bắt cả già
Chỉ còn lại người què và mù loà
Dân làm ruộng đâu còn dám kêu ca
Cha con chỉ còn biết buồn khóc
Ruộng vườn còn làm thế nào được
Cái cảnh phải bán hết trâu nghé
Khí buồn kết lại thành mưa dầm
Trong trảo, nồi không có tí cháo nào
Người mù què không cày cấy được
Chẳng nhanh thì chậm rồi cũng chết
Ta trông thấy mà lấy làm thẹn
Ăn lộc vua cũng uổng
Ngâm hoài bài “Quy khứ lai”
Về đi chặt củi trong hang sâu.


Tác giả làm bài thơ này khi làm tri huyện Tương Thành, tỏ chủ trương sáng tác thi ca của ông, tác giải tự chú bên dưới đề: “Canh Thìn chiếu thư, phàm dân tam đinh tịch nhất, lập hiệu vi trương, hiệu cung tiễn thư, dụng bị bất ngu. Chủ tư dục dĩ đa mị thượng, cấp trách quận lai; quận lại uý, bất cảm biện, toại dĩ thuộc huyện lệnh, tuy lão ấu bất năng miễn, thượng hạ sầu oán, thiên vũ dâm dâm, khởi trợ thánh thượng phủ dục chi ý da? Nhân lục điền gia, chi ngôn, thứ vi văn. Dĩ sĩ thái thi giả vân” (Chiếu thư năm Canh Thìn: cứ ba đinh dân vào sổ một, lập thành hiệu và trưởng hiệu, gọi là tay cung, để đề phòng bất trắc, quan tỉnh muốn dùng số nhiều để lấy lòng bề trên, trách gấp quận lại; quận lại sợ, không dám làm, nên gán về huyện, tra xét nhân khẩu, tuy già trẻ cũng không miễn, trên dưới buồn oán, trời mưa dầm, há giúp được gì cho ý phủ dụ của vua? Nhân ghi lại lời nhà nông, làm thành văn vần, để đời người thích thơ vậy).

Ông rất coi trọng tác dụng can gián của thơ ca, từng đề ra: “Nhân việc có điều kích thích, nhân vật gây hứng để thông, từ dưới mà gọt dũa trên nên gọi là cổ phong”.

Nguồn: Mai Nghiêu Thần tập biên niên hiệu chú, quyển 10, NXB Thượng Hải cổ tịch, 1980

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Nhà nông vui, ai nói
Thuế xuân, thu chưa xong
Lý trưởng đến gõ cửa
Thúc sớm hôm nóng lòng
Cuối hạ nhiều mưa lụt
Mái nhà dưới nước trong
Đậu đã bị ngập nước
Keo ăn lúa trong đồng
Tháng trước vua có chiếu
Bắt khai nhân khẩu làng
Ba đinh ghi một khỏe
Hăng hái giao đeo cung
Rất nghiêm, châu có lệnh
Roi lại già quất hung
Già trẻ bắt đi hết
Còn què, không mắt trông
Dân nông đâu dám oán
Cha con khóc não nùng
Đồng ruộng làm gì nổi
Bán trâu, nghé nhà nông
Mưa dầm khí buồn biến
Trảo nồi cháo lão không
Què mù cày chẳng được
Chóng chày cũng tử vong
Ta nghe mà thấy thẹn
Ăn lộc vua ngượng ngùng
“Quy khứ lai” ngâm mãi
Hái củi chốn hang cùng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Bách

Ai bảo nhà nông vui
Sang thu thuế chưa đủ
Lý dịch gõ cửa đòi
Ngày đêm giục như lửa
Mùa hạ lụt lội nhiều
Nước dâng ngập nhà cửa
Nạn lụt lại nạ sâu
Phá hại cả lúa đỗ
Tháng trước chiếu vua về
Đến tuổi phải ghi sổ
Ba đinh bắt một đinh
Cung tên tập thành dữ
Trát châu đã khắt khe
Lại già đánh đạp phũ
Bắt cả trẻ lẫn già
Mù què trơ lại đó
Làng xóm dám kêu ca
Cha con khóc khổ sở
Ruộng nương bỏ chẳng cày
Bán trâu mua tên nỏ
Khí hậu hoá mưa dai
Cháo loãng cũng chẳng có
Mù què biết làm gì
Chóng chầy đành chết rũ
Ta nghe những thẹn lòng
Lộc vua ngồi hưởng thụ
Ngâm bài “Về đi thôi”
Đốn củi rừng sân nọ.


Nguồn: Thơ Tống, NXB Văn học, 1991
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời