過彭澤訪陶潛舊居

自性本閒曠,
初不比碌碌。
斗米肯折腰,
解印寧辭祿。
扶疏五株柳,
冷澹一離菊。
寥寥千載後,
清名吾可服。

 

Quá Bành Trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư

Tự tính bản nhàn khoáng,
Sơ bất tỷ lục lục.
Đẩu mễ khẳng chiết yêu,
Giải ấn ninh từ lộc.
Phù sơ ngũ chu liễu,
Lãnh đạm nhất ly cúc.
Liêu liêu thiên tải hậu,
Thanh danh ngô khả phục.

 

Dịch nghĩa

Bản tính vốn nhàn tản phóng khoáng,
Từ đầu đã không gần được kẻ a dua.
Há vì đấu gạo mà phải khom lưng,
Cởi dây ấn, đành từ quan mà về.
Lưa thưa năm khóm liễu,
Lạnh nhạt một giậu cúc.
Mịt mờ nghìn năm sau,
Thanh danh còn khiến ta khâm phục.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Huệ Chi

Nhàn khoáng ấy tính trời,
So đâu kẻ đua đòi.
Gãy lưng vì đấu gạo,
Treo ấn bỏ quan thôi.
Đạm bạc, cúc một giậu,
Lưa thưa, liễu dăm chồi.
Nghìn năm sau mờ mịt,
Danh tiếng cảm đến tôi.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Nhàn khoáng, chẳng a dua,
Tính trời vốn khác tục.
Vì thưng gạo gãy lưng,
Thà trả ấn từ lộc.
Thưa thớt dăm chồi liễu,
Lạnh lùng một giậu cúc.
Nghìn năm mờ mịt xa,
Danh tiếng khiến ta phục.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Nhàn tản phóng khoáng, ấy tính trời,
Từ xưa ta đã chẳng đua đòi.
Há vì đấu gạo mà luồn cúi,
Cởi ấn, từ quan về đây thôi.
Lưa thưa cạnh nhà năm khóm liễu,
Lạnh nhạt bên sân giậu cúc hoa.
Mịt mờ nghìn năm sau chốn ấy,
Thanh danh đó làm ta phục người.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời