送李將軍

雙旌漢飛將,
萬里獨橫戈。
春色臨關盡,
黃雲出塞多。
鼓鼙悲絕漠,
烽戍隔長河。
想到陰山北,
天驕已請和。

 

Tống Lý tướng quân

Song tinh Hán phi tướng,
Vạn lý độc hoành qua.
Xuân sắc lâm quan tận,
Hoàng vân xuất tái đa.
Cổ bề bi tuyệt mạc,
Phong thú cách trường hà.
Tưởng đáo âm sơn bắc,
Thiên kiêu dĩ thỉnh hoà.

 

Dịch nghĩa

Doanh trại treo cao đôi cờ lớn như Phi tướng quân đời Hán,
Cầm ngang ngọn mác một mình trông coi biên cương dài vạn dặm.
Dáng xuân đã thấy tới khắp cửa,
Mây vàng bay qua ải nhiều.
Trống lớn nhỏ thúc buồn bã nơi sa mạc xa xôi,;
Đài lửa báo nguy cách bên kia con sông dài.
Tưởng tới ở mặt bắc núi râm mát,
Lũ giặc trời kiêu ngạo đã phải xin giải hoà.


Lý tướng quân thân thế không rõ. Tiêu đề có bản chép là Tống Lý tướng quân phó Định Châu. Định Châu nay trong huyện Định, tỉnh Hà Bắc.

Nguồn: Đường thi tuyển, Mã Mậu Nguyên, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1999

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Cờ đôi như tướng bay đời Hán
Mác trong tay yên trấn muôn trùng
Dáng xuân thấy khắp núi rừng
Lững lờ trên ải mây vàng êm trôi
Trống lớn nhỏ thúc nơi sa mạc
Lửa báo nguy đài cách con sông
Bên kia mặt bắc núi râm
Giặc trời kiêu ngạo đã mong giải hoà.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Treo cờ tướng Hán trại tung bay,
Ngọn mác một mình giữ ải dài.
Đã thấy dáng xuân qua khắp cửa,
Mây vàng qua ải thật nhiều thay.
Trống buồn thúc trận xa sa mạc;
Đài lửa báo nguy cách sông này.
Tưởng tới mát râm nơi núi bắc,
Giặc trời kiêu ngạo phải hoà ngay.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời