晝居池上亭獨吟

日午樹陰正,
獨吟池上亭。
靜看蜂教誨,
閑想鶴儀形。
法酒調神氣,
清琴入性靈。
浩然機已息,
几杖復何銘。

 

Trú cư trì thượng đình độc ngâm

Nhật ngọ thụ âm chính,
Độc ngâm trì thượng đình.
Tĩnh khan phong giáo hối,
Nhàn tưởng hạc nghi hình.
Pháp tửu điều thần khí,
Thanh cầm nhập tính linh.
Hạo nhiên cơ dĩ tức,
Kỷ trượng phục hà minh.

 

Dịch nghĩa

Vào lúc trưa chính ngọ dưới bóng cây râm mát,
Trong đình trên ao một mình ngâm thơ.
Lặng lẽ quan sát ong dạy bảo tính cần lao,
Tưởng nhớ tới hình ảnh thanh cao của chim hạc.
Uống rượu đúng phép để điều hoà thần khí,
Gảy đàn thanh tao nghe nhập vào tính linh.
Động cơ hành đông ngay thẳng đã ngừng,
Lại khắc gì trên ghế tre và gậy tre bây giờ?


Tác giả viết bài này khoảng năm 836 tại đông đô Lạc Dương, trong thời gian ông giữ chức thái tử tân khách tại đây. Ông thuộc phe cải cách trong triều, bị phe bảo thủ thắng thế đày ông đi nhiều nơi trong suốt gần 30 năm mới được về đông đô. Nay ý chí đấu tranh đã hết, như ông kết luận bài này.

Nguồn: Đường thi giám thưởng từ điển, nhóm Tiêu Địch Phi, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2007

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Vào đúng trưa bóng cây râm mát
Đình trên ao ngâm hát một mình
Xem ong học hỏi tính tình
Ngồi nhàn tưởng nhớ bóng hình hạc xa
Rượu uống đủ điều hoà thần khí
Gảy đàn cho tâm trí thảnh thơi
Động cơ hành động ngừng rồi
Ghế tre hay trượng khắc lời gì đây?

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Chính ngọ lúc trưa dưới bóng râm,
Trong đình ao nước một mình ngâm.
Xem ong lặng lẽ đang làm việc,
Tưởng nhớ thanh cao hạc loài cầm.
Uống rượu điều thần cho đúng phép,
Gảy đàn nhập tính thanh tao tâm.
Động cơ hành đông nên ngay thẳng,
Lại khắc gì trên ghế xứng tầm?

Chưa có đánh giá nào
Trả lời