贈安南國使臣五言詩其一

聞道交南俗,
民居瘴海堧。
恩綸新雨露,
封壤舊山川。
界割羣蠻表,
風連百越偏。
時清呈瑞雉,
水毒跕飛鳶。
象自村童馭,
香隨賈客船。
沙邊饒蜮弩,
淵底吐蛟涎。
地氣先春暖,
梅花未臘姘。
貢憑重譯舌,
家養八蠶眠。
彩畵周王會,
銅標漢史編。
逢君還作別,
相憶五溪煙。

 

Tặng An Nam quốc sứ thần ngũ ngôn thi kỳ 1

Văn đạo Giao Nam tục,
Dân cư chướng hải nhuyên.
Ân luân tân vũ lộ,
Phong nhưỡng cựu sơn xuyên.
Giới cát quần man biểu,
Phong liên Bách Việt thiên.
Thời thanh trình thuỵ trĩ,
Thuỷ độc chiếm phi diên.
Tượng tự thôn đồng ngự,
Hương tuỳ cổ khách thuyền.
Sa biên nhiêu vực nỗ,
Uyên để thổ giao diên.
Địa khí tiên xuân noãn,
Mai hoa vò lạp phanh.
Cống bằng trùng dịch thoại,
Gia dưỡng bát tàm miên.
Thái hoạ Chu vương hội,
Đồng tiêu Hán sử biên.
Phùng quân hoàn tác biệt,
Tương ức ngũ khê yên.

 

Dịch nghĩa

Nghe nói tục ở Giao Nam,
Dân chúng sống ở biển nhiều chướng khí.
Nay được ơn mưa móc của nhà vua,
Phong cho sông núi cũ.
Biên giới ở bên ngoài các người Man,
Khí hậu thì liền với Bách Việt.
Khi được mùa thì chơi với chim trĩ,
Khi nước độc thì thả diều.
Trẻ con ở quê cưỡi voi,
Hương liệu đem bán cho khách đi thuyền tới.
Cát ở bờ biển nhiều sâu bọ,
Dưới vực thì con giao nhả dãi.
Mùa xuân chưa tới mà trời đã ấm,
Hoa mai chưa tháng chạp đã nở.
Đi triều cống phải đến hai lần dịch,
Ở nhà nuôi tằm ngủ.
Trong hội nhà Chu vẽ tranh màu,
Sử đời Hán đã nói tới cột đồng.
Gặp ông rồi cũng chia tay,
Nhưng dù xa xôi vẫn nhớ đến nhau.


Năm Quang Hưng thứ 20 (1597), Phùng Khắc Khoan được cử làm chánh sứ dẫn đầu một sứ bộ sang Tàu, dự tiệc chúc thọ Minh Vạn Lịch tại Bắc Kinh, ở đây ông có gặp sứ thần Triều Tiên là Lý Tuý Quang và có thơ xướng hoạ với nhau khá nhiều thơ.

Nguồn: Nguyễn Duy Chính, “Cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Triều Tiên và Đại Việt ở triều đình nhà Thanh năm Canh Tuất (1790)”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6(83), 2010