Lồng lộng thay, bãi cát mênh mông, bóng người vắng ngắt! Dòng nước quanh co, rặng non cao ngất! Ngọn gió lạnh lùng, bóng chiều hiu hắt! Bụi cỏ rạc khô, hơi sương rá ngắt! Chim chóc vắng teo, muông thưa lối tắt! Có người đình trưởng bảo ta rằng: “Đó là bãi chiến-tràng ngày xưa, đã có khi ba quân đổ tạt đó; mỗi khi âm trời, quỷ khóc ma kêu, như mưa như gió!” Thương sót thay! nhà Tần ư? nhà Hán ư? hay là đời gần đây ư?

Ta nghe Kinh, Hàn, Tề, Nguỵ, đem quân đi đường; rong ruổi muôn dặm, năm năm phơi xương. Ngựa thả bãi cỏ, đêm sang đò ngang; trời cao đất rộng, đường lối minh mang; gửi thân mũi kiếm, thổn thức gan vàng.

Ta tưởng nhưng khi gió bắc ào ào, quân Hồ lẻn đến; chủ tướng khinh địch, cửa quân khai chiến. Đồng rợp tinh kỳ song đầy tổ luyện; phép nghiêm, dạ phải hãi hùng; oai tôn, mạng thành đê tiện. Tên lọt xương sâu, cát bay mặt kín; đôi quân đánh nhau, non sông chuyển biến; thế mạnh như sấm vang, tiếng reo như sóng biển. Lại như: Trời đông tháng rét, góc bể lạnh lùng: ngập vế tuyết bám, đầy râu váng đông; chim khiếp ít đến, ngựa đi ngại ngùng; bông vải không ấm, nứt da rụng lông. Đương lúc trời giá rét ấy, quân Hồ kéo vào; đánh nhau dữ dội, sát khí ào ào, xe lương bị chặn, quân sĩ xôn xao; đô uý hàng giặc, tướng quân đâu nào? Lạch lớn ngổn ngang thây trắng, hang sâu lây láng máu đào; ai sang ai hèn, cũng là xương khô một đống, nỗi thảm sầu kể xiết làm sao!

[...]

Hỡi dân xanh đầu, ai không mẹ cha; nưng niu ôm ấp, mong thọ đến già! Ai không anh em, như chân như tay; ai không vợ chồng, bầu bạn sum vầy. Sống có ai biết, chết có ai hay! Chiêm bao vơ vẩn, giọt lệ với đầy.

[...]

Gọi có chén rượu, tỏ chút lòng này. Thượng hưởng.


Nguồn: Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Nam Ký xuất bản, 1938
tửu tận tình do tại