浪淘沙其一

簾外雨潺潺,
春意闌珊,
羅裳不耐五更寒。
夢裏不知身是客,
一晌貪歡。

獨自莫憑欄,
無限江山,
別時容易見時難。
流水落花春去也,
天上人間。

 

Lãng đào sa kỳ 1

Liêm ngoại vũ sàn sàn,
Xuân ý lan san,
La thường bất nại ngũ canh hàn.
Mộng lý bất tri thân thị khách,
Nhất hướng tham hoan.

Độc tự mạc bằng lan,
Vô hạn giang san,
Biệt thời dung dị kiến thời nan.
Lưu thuỷ lạc hoa xuân khứ dã,
Thiên thượng nhân gian.

 

Dịch nghĩa

Ngoài mành mưa tí tách,
Ý xuân suy tàn,
Xiêm áo không chống được năm canh lạnh,
Trong mộng quên rằng mình là khách,
Được một buổi vui vẻ.

Một mình chớ dựa lan can,
Giang sơn vô hạn,
Chia ly thì dễ mà gặp lại thì khó.
Nước chảy hoa rơi xuân đã hết rồi,
Trên trời hay chốn nhân gian.


Bài từ này thể hiện nỗi lòng sau khi mất nước, tác giả bị giam lỏng ở Biện Lương.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Chí Viễn

Ngoài cửa gió mưa ràn
Xuân ý điêu tàn
Năm canh lạnh ngắt thấu chăn đơn
Giấc mộng bỗng quên mình tác khách
Một phút truy hoan

Đừng có tựa lan can
Man mác giang san
Khó khăn hội ngộ dễ lìa tan
Nước chảy hoa trôi xuân bặt nẻo
Thượng giới nhân gian


Nguồn: Tuyển tập từ Trung Hoa - Nhật Bản, Nguyễn Chí Viễn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Ngoài rèm tiếng mưa rơi tí tách
Ý xuân đà hết sạch trong lòng
Áo không chịu lạnh năm canh
Quên thân khách trọ mộng lành tỉnh bơ
Chỉ là một thoáng vui qua

Đứng một mình lan can không tựa
Núi sông xanh vẫn cứ một màu
Xa nhau dễ, khó thấy nhau
Hoa trôi nước chảy qua cầu xuân đi
Trên trời người chẳng hay gì…

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời