Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
3 bài trả lời: 3 bản dịch
Từ khoá: Hồ Công động (6)
Đăng bởi Phụng Hà vào 01/01/2010 11:11, đã sửa 3 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 22/09/2018 17:28

題壺公洞

神錐鬼鑿萬重山,
虛室高窗宇宙寬。
世上公名都是夢,
壺中日月不勝閒。
花陽龍化玄珠墜,
碧峒泉流白玉寒。
我欲乗風陵絕頂,
望窮雲海有無間。

 

Đề Hồ Công động

Thần chuỳ quỷ tạc vạn trùng san,
Hư thất cao song vũ trụ khoan.
Thế thượng công danh đô thị mộng,
Hồ trung nhật nguyệt bất thăng nhàn.
Hoa dương long hoá huyền châu truỵ.
Bích động tuyền lưu bạch ngọc hàn.
Ngã dục thừa phong lăng tuyệt đính,
Vọng cùng vân hải hữu vô gian.


Động Hồ Công ở trong núi Xuân Đài, xã Thọ Vực, huyện Vĩnh Lộc, trấn Thanh Hoá, phía trước sát với sông Mã, cảnh trí rất đẹp. Trong động có hai pho tượng đá, tương truyền ngày trước có một ông già dắt tiểu đồng đến đây hái thuốc rồi biến mất. Vua Lê Thánh Tông từng nói trong 36 động của nước ta thì động này là động thứ nhất.

Bài thơ này được khắc trên bia đá ở đây, thuộc nhóm bia hộp được tạc từ mỏm đá nguyên khối cao 2,5m, cả 4 mặt đều khắc chữ Hán. Nội dung bia đá khắc tên các bậc vua, chúa, hoàng thân quốc thích, quan lại trong triều đã đóng góp tiền của trùng tu lại chùa trong thời gian đó. Tên bia là “Trùng tu Xuân Đài sơn, Hồ Công động, Du Anh tự bi”, mặt sau khắc niên đại “Ngày lành tháng 10 niên hiệu Hoằng Định thứ 6 (1605)”. Ở đây còn khắc một số bài thơ của những tác giả khác đề.

Lời tự: “Hồng Đức cửu niên trọng xuân Mậu Tý, đại giá phát tự Lam Kinh, Lễ giang trú trát. Thời, vi phong xuy noãn, bạc nhật huân tình, dư thừa hứng đăng chu, du Hồ Công động, phan duyên bạch thạch, ỷ tỉ lục âm, vọng viễn lâm cao, diểu mang vân hải, phân phi trần nhiễu, thích nhĩ vong hoài, tả cận thể nhất chương, vĩnh lưu vu thạch vân” 洪德九年仲春戊子,大駕發自藍京,醴江駐札。時,微風吹暖,薄日曛晴,予乘興登舟,遊壼公洞,攀緣白石,倚徙綠陰,望遠臨高,渺汒雲海,紛霏塵繞,適爾忘懷,寫近體一章,永留于石云 (Ngày Mậu Tý mùa xuân tháng 2 niên hiệu Hồng Đức thứ 9, xa giá xuất phát từ Lam Kinh, thuyền đỗ bờ sông Lễ (sông Mã), lúc bấy giờ gió xuân thổi ấm, mặt trời chiếu sáng, ta nhân hứng lên thuyền du động Hồ Công, men theo đá trắng, nương bóng cây xanh, trông xa lên cao, mây biển mịt mùng, thảy hết bụi trần, lòng quên trần tục, nhân viết một bài thơ cận thể để lưu mãi trên đá).

Nguồn:
1. Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hoá, Nha văn hoá Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1960
2. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Tuấn Khải

Thần đào quỷ đẽo núi muôn trùng,
Cửa trống nhà cao rộng thoáng không.
Cõi tục công danh toàn mộng mị,
Trong hồ ngày tháng rất ung dung.
Non hoa rồng hóa châu rơi rắc,
Động biếc khe tuôn ngọc lạnh lùng.
Muốn cưỡi gió trèo lên tuyệt đỉnh,
Khắp nhìn trời biển khoảng mênh mông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Thiện Đình

Khuôn thiêng khéo tạc núi muôn trùng,
Cửa động thênh thênh gió dễ thông.
Cuộc thế công danh mơ tưởng hão,
Bầu tiên phong nguyệt thú vui cùng.
Hạt châu rơi đất nghi rồng hoá,
Giọt ngọc tuôn trời rõ suối trong.
Muốn cưỡi gió lên chơi đỉnh núi,
Trông mây trông nước tít từng không.


Nguồn:
1. Thiện Đình, “Tây Đô thắng tích”, Nam Phong tạp chí, số 160
2. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Hoá công khéo tạc núi muôn trùng,
Cửa động rộng cao thoáng dễ thông.
Cuộc thế công danh toàn mộng ảo,
Bầu tiên ngày tháng rất ung dung.
Non hoa rồng hoá châu rơi đất,
Động biếc khe tuôn ngọc lạnh lùng.
Muốn cưỡi gió trèo lên tận đỉnh,
Ngắm cùng mây biển khoảng mênh mông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời