又次艮齋韻

一片星槎萬里山,
乾坤無處不為閑。
遙傾葵影遊燕壁,
惹帶荷香入楚關。
風為石榴然舊燼,
雨憐湘竹洗餘潸。
舟中次第筵蒲飲,
不在朝班亦使班。

 

Hựu thứ Cấn Trai vận

Nhất phiến tinh tra vạn lý san,
Càn khôn vô xứ bất vi nhàn.
Dao khuynh quỳ ảnh du Yên bích,
Nhạ đới hà hương nhập Sở quan.
Phong vi thạch lựu nhiên cựu tẫn,
Vũ liên tương trúc tẩy dư san.
Chu trung thứ đệ diên bồ ẩm,
Bất tại triều ban diệc sứ ban.

 

Dịch nghĩa

Một mảnh bè sao vạn dặm núi
Đất trời đâu chẳng là chốn nhàn đối với ta
Bóng quỳ xa nghiêng về chốn vách Yên
Giấu mang hương sen vào cửa quan nước Sở
Gió vì thạch lựu đốt cái cũ thành tro
Mưa thương trúc sông Tương rửa sạch ngấn còn đọng lại
Trong thuyền lần lượt uống rượu bồ trong tiệc
Không ở triều ban thì ở sứ ban


Bài thơ này hoạ bài Chu trung đoan dương 舟中端陽 (Tết đoan ngọ ở trên thuyền), chép trong Cấn Trai quan quang tập 艮齋觀光集 của Trịnh Hoài Đức.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoài Anh

Bè sao một lá dặm ngàn
Đất trời đâu chẳng chốn nhàn với ta
Bóng quỳ nghiêng vách Yên xa
Vào ải Sở, giấu mang là hương sen
Lửa lựu đốt cái cũ liền
Thương trúc Tương mưa rửa đền ngấn nhơ
Trong thuyền vui tiệc rượu bồ
Tuy trên đường sứ nào thua trong triều

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Một mảnh bè sao vạn dặm ngàn,
Đất trời đâu chẳng thật nơi nhàn.
Bóng quỳ nghiêng tới Yên bên vách,
Mang giấu hương sen Sở cửa quan.
Đốt cũ thành tro vì thạch lựu,
Mưa Tương thương trúc rửa in tan,
Trong thuyền tiệc uống tràn bồ rượu,
Không ở triều ban thì sứ ban.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời