Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Nguyễn
6 bài trả lời: 3 bản dịch, 3 thảo luận

Đăng bởi Vanachi vào 05/09/2008 21:55, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 07/09/2009 10:57

聞洋使抵館

勞苦沙場幾雪霜,
坐看虜使達明堂。
更無鷄鴨充長啄,
寧有冠裳校詭裝。
閫外六軍還對壘,
舟中一介已來王。
未應國計窮和學,
且為生靈智鬼方。

 

Văn Dương sứ để quán

Lao khổ sa trường kỷ tuyết sương,
Toạ khan lỗ sứ đạt minh đường.
Cánh vô kê áp sung trường trác,
Ninh hữu quan thường hiệu quỷ trang.
Khổn ngoại lục quân hoàn đối luỹ.
Chu trung nhất giới dị lai vương.
Vị ưng quốc kế cùng hoà học,
Thả vị sinh linh trí Quỷ Phương.

 

Dịch nghĩa

(Biết bao người) lao khổ chốn sa trường, đã trải mấy tuyết sương,
Phải ngồi nhìn sứ giặc (nghênh ngang) đến chốn minh đường.
Không còn gà vịt đâu nữa mà nhét vào mỏ dài (của bọn bay).
Ta chỉ có mũ áo (lịch sự) để chọi lại sự nguỵ trang quỉ quyệt (của bọn bay).
Ngoài chiến trường, toàn quân vẫn đang đối luỹ với giặc,
(Thế mà) ở trong thuyền, chỉ một cỗ áo giáp mà chúng dễ dàng đến chầu như vậy.
Không nên coi học thuyết hoà nghị là "quốc kế" để thực hiện đến cùng,
Hãy vì sinh linh trăm họ mà mau xử trí bọn giặc Tây.



Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Văn Lâu

Lao khổ sa trường mấy tuyết sương,
Ngồi nhìn sứ giặc tới minh đường.
Chẳng còn gà vịt nuôi dài mỏ,
Chỉ có cân đai chọi nguỵ trang.
Ngoài trận toàn quân còn đối luỹ,
Trên thuyền bộ giáp dễ chầu vương.
Quốc kế chẳng nên hoà nghị mãi,
Vì dân sớm liệu rợ Tây phương.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Bá Chí

Gian khổ chiến trường mấy tuyết sương
Nay trông sứ giặc đến minh đường.
Chẳng loài gà vịt khua môi mỏ,
Cũng mặc áo khăn giấu hận trường.
Ngoài cõi quân ta đang đấu súng,
Trong thuyền chiến sĩ nhớ “lai vương”.
Đừng lo vận bỉ mà mềm chí,
Vì nước cùng bàn một quỷ phương.


Nguồn: Thơ văn Lê Khắc Cẩn, Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Dị bản

Trong quyển “Thơ văn Lê Khắc Cẩn” của nhà xuất bản Hải Phòng, TS. Trần Bá Chí viết câu 3 là “Cánh vô kê áp sung trường trác”, câu 4 là “Ninh hữu quan thường hiệu ngụy trang” (寧有冠裳 較 詭裝).

NXB Hải Phòng dịch nghĩa:
Nghe tin sứ nước Pháp đến sứ quán

Chúng ta dãi tuyết dầm sương chống giặc Pháp đã bao năm,
Nay thấy sứ giả của giặc Tây bước vào nhà Minh đường, nơi tôn kính nhất!
Ta không thể như loài gà vịt kéo dài mõm ra mà mắng nhiếc
Thôi cũng đành mặc xiêm, đội mũ ra đón để ngụy trang nỗi lòng căm phẫn.
Ngoài biên ải quân ta còn phải đối lũy với chúng mà chiến đấu,
Trong chiến thuyền dù còn một mảnh áo giáp cũng mong nhớ về hầu vua.
Không nên lo quốc kế đã cùng đường, mà bàn đến kế hòa hoãn,
Hãy vì sinh linh trăm họ mà chớ từ bỏ những mưu chước dù là quỷ quái.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Chú thích của TS. Trần Bá Chí

Lai vương: Nhớ về chầu vua. Trong Kinh Thi, phần Tụng, bài “Ân vũ” có câu “Mạc cảm bất lai vương”, nghĩa là “Vua các nước chư hầu chẳng dám quên ngày chầu thiên tử.”

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

sai sót

Cảm ơn bác, về những chỗ khác biệt trên, có lẽ là do phiên âm nhầm, còn bản chữ Hán vẫn giống như những gì bác chỉ, nên cháu đã sửa lại phiên âm cho khớp.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Lao khổ sa trường trải tuyết sương,
Nghênh ngang sứ giặc chốn minh đường.
Đâu còn gà vịt nuôi dài mỏ,
Chỉ có cân đai chọi gạt lường.
Chiến địa toàn quân còn đối luỹ,
Trong thuyền cỗ giáp dễ chầu vương.
Nghị hoà không phải là mưu nước,
Mau xử vì dân giặc Tây dương.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời