制臺陳公命代和裴使公...

晚來才盡遇機難,
誰料懸車復據鞍。
萬里征途憂日短,
十年病骨夢河乾。
遠軍重鎭聲仍壯,
外敵遙聞腑亦寒。
況是德星相聚處,
籌樓夜夜獨憑欗。

 

Chế đài Trần công mệnh đại hoạ Bùi sứ công “Thượng Lâm Thú doanh”

Vãn lai tài tận ngộ cơ nan,
Thuỳ liệu huyền xa phục cứ an.
Vạn lý chinh đồ ưu nhật đoản,
Thập niên bệnh cốt mộng hà càn.
Viễn quân trọng trấn thanh nhưng tráng,
Ngoại địch dao văn phủ diệc hàn.
Huống thị đức tinh tương tụ xứ,
Trù lâu dạ dạ độc bằng lan.

 

Dịch nghĩa

Cuộc đời như bóng đã xế chiều, tài năng đã sút kém, lại gặp thời cơ khốn khó,
Nhờ ai treo giúp cỗ xe công để về vườn ngồi trên yên ngựa nhà.
Đường chinh chiến kéo dài muôn dặm, thường lo những ngày ngắn,
Bệnh cốt đã mười năm, chiêm bao thấy nước sông đã cạn.
Ở các trọng trấn vẫn vang tiếng quân ta là quân hùng tráng,
Khiến kẻ địch ngoài xa nghe tiếng đồn cũng đã lạnh gan.
Huống gì “đức tinh” của ngài đang được tụ lại một nơi,
Đêm đêm tựa lan can Trù lâu để tính toán thời cuộc.


Trần Tổng đốc (Chế đài) là Trần Đình Túc (?–1892), quê huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị. Ông đậu cử nhân 1842, thời Tự Đức làm Biện lý bộ Hình. Năm 1868 ông nhận lệnh đi công cán ở Hồng Công, rồi về làm Tuần phủ Hà Nội, làm Tán tương quân vụ Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang). Năm 1873 quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, ông được làm Tổng trấn Hà Nội, cùng với Hoàng Hữu Thường, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội thương lượng với Pháp mọi việc ở Bắc Kỳ. Năm 1880 Hoàng Diệu ra thay làm Tổng đốc Hà Nội, ông vào Huế làm Thượng thư bộ Lễ. Năm 1882 Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, ông được cử làm Khâm sai đại thần ra Bắc điều đình, rồi lại làm Tổng đốc Hà Nội. Năm 1891 được gia hàm Hiệp biện đại học sĩ, năm 1892 ông mất.

Bùi sứ công tức Bùi Văn Dị. Doanh trại Lâm Thú chưa rõ ở đâu.

Bản phiên âm và chú thích của PGS.TS sử học Trần Bá Chí, bản dịch nghĩa của NXB Hải Phòng.

Nguồn: Thơ văn Lê Khắc Cẩn, NXB Hải Phòng, 2003

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Bá Chí

Cuối đời tài kiệt vận gian nan,
Ai giúp treo xe trở lại làng.
Chinh chiến đường dài ngày sợ tối,
Mộng tin sông cạn báo đời tàn.
Quân ta trong trấn sức còn tráng,
Giặc ngoại nghe đồn cũng nát gan.
May mắn “Đức tinh” còn chói lọi,
Đêm ngồi lầu kín tựa lan can.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phụ chú

Ở phần dịch xuôi, Nhà xuất bản Hải Phòng dịch tựa bài thơ kèm phụ chú như sau:

"Tổng đốc họ Trần sai làm thơ họa bài của Bùi Văn Dị sau tiết Mang thục (mồng 7 tháng 6), đến doanh Lâm Thú."

(Chú: Lần này cùng với Dương Liêm bạn đồng hương làng Văn Trì (huyện Đông Ngàn) đến thăm Đỗ Doãn ở Thịnh Hào, cùng làm bài thơ Dạ thoại cảm tác.)

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Tài kém cuối đời vận khó khăn,
Nhờ ai giúp ngựa xe về làng.
Đường dài chinh chiến lo ngày ngắn,
Mộng thấy cạn sông điềm báo tàn.
Trọng trấn quân ta quân tráng chí,
Nghe đồn kẻ địch cũng kiên gan.
Huống gì đang tụ “đức tinh” lại,
Thời cuộc đêm mưu tựa giậu lan.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời