Gái sao sánh với anh hùng,
Vì đem vàng đá liều cùng nước non.
Có người Thuý Ái họ Phan,
Mai còn thua trắng, liễu còn kém xanh.
Khâm chù phận gái mong manh,
Với cùng Ngô Cảnh bén tình lửa hương.
Bỗng đâu vừa gập chiến trường,
Thua cơ chàng đã quyết đường quyên sinh.
Tin về ai nấy đều kinh,
Mà nàng Phan Thị một mình cười vui.
Niên hoa vừa trạc hai mươi,
Những mong phấn sáp tốt tươi áo quần.
Kẻ chê người trách mấy lần,
Cũng không kể lể ân cần điều chi.
Trăm ngày hầu đã đến kỳ,
Sắm sanh một lễ trai nghi sẵn sàng.
Rước thầy siêu độ cho chàng,
Đủ tuần lễ mới sửa sang việc mình.
Xuống thuyền quần áo tốt xinh,
Gọi bà kể hết sự tình đầu đuôi.
Việc tôi nay đã lọn rồi,
Thì tôi xin thác với người cho xong.
Nói rồi thuyền mới xuôi dòng,
Đến nơi chàng chết xuống sông theo chàng.
Thôi đà nát ngọc chìm hương,
Ai ai trông thấy lòng càng thêm thương.
Người sao tiết nghĩa lạ nhường?
Nhẹ mình nặng gánh cương thường hai vai.
Ba trăm năm kể mấy đời,
Đài gương một mảnh mấy trai soi cùng.


Bài thơ này đăng trên Nam Phong tạp chí số 21 (3-1919), do Mân Châu sao lục, không đề tác giả.

Phan Thị Thuấn 潘氏舜 (1766-1786) tự Nữ Anh 女英, quê tại hương Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, nay là làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là phu nhân thứ ba của tướng quân Ngô Cảnh Hoàn 吳景桓 (1720-1786) triều Lê trung hưng.

Năm 1786, quân Tây Sơn vượt sông Gianh đánh ra Bắc, thuỷ quân của Ngô Cảnh Hoàn được lệnh dàn chiến đĩnh ở bến Thuý Ái (nay là phường Thuý Ái, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) nghênh chiến. Ngô Cảnh Hoàn bị trúng đạn thần công, ngã xuống sông mà chết. Bà thờ chồng đến hết 100 ngày thì từ giã họ hàng, tới bến Thuý Ái, đọc cáo văn và khấn nguyện rồi ung dung bước xuống thuyền chèo ra giữa sông, rồi gieo mình xuống nước, khi đó mới 20 tuổi, chưa kịp có con.

Đời Lê Chiêu Thống, bà được sắc phong Trinh liệt phu nhân. Năm Tự Đức thứ 12 (1859), triều Nguyễn lại sắc phong Thượng đẳng tôn thần và ban biển vàng đề mấy chữ Trung liệt nhất gia, sau cả hai đền thờ đều được gọi là Trung Liệt đền.

Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 21, tháng 3-1919