Từ nan khôn chối lệnh quân vương,
Rõi rõi thêm đau nỗi đoạn trường.
Khúm núm khấu đầu ngoài bệ ngọc,
Thẹn thùng ra mặt trước nhà vàng.
Mặt hoa rười rượi chiều đeo tuyết,
Mày liễu rầu rầu dáng ủ sương.
Hang thẳm phen này xuân nỡ phụ,
Lòng quỳ khôn xiết ngóng về dương.


Đây là bài thơ tác giả mượn tiếng Vương Tường hoạ bài Vua dụ Vương Tường gả cho chúa Thiền Vu. Câu thơ đầu nói rằng (Vương Tường) khó từ nan lệnh của nhà vua. Trong xã hội Nho Giáo “Quân khiến thần tử, thần bất tử bất trung”. Vua bảo chết còn phải chết vì sợ mang tiếng bất trung thì sá chi việc qua Hung Nô làm hoàng hậu. Nói xa hơn, dù Huyền Trân Công Chúa có yêu Trần Khắc Chung đến mấy đi nữa, vua Trần đã gả cho vua Chiêm thì Công Chúa Huyền Trân phải vâng mệnh về Chiêm Quốc. Tuy nhiên, ra đi mà mỗi bước đi, mỗi tỏ rõ nỗi đoạn trường khi về làm vợ người khác nơi xứ người. Trước bệ ngọc vua Hán thì (Vương Tường) khấu đầu vâng mệnh; về nơi xứ người (nhà vàng) thì lòng những thẹn thùng. Mặt hoa là mặt người đẹp (“Tay ôm đàn che nửa mặt hoa” - Tỳ bà hành, Bạch Cư Dị), mặt Vương Tường tuy đẹp nhưng buồn rười rượi như chiều có tuyết rơi. Mày Vương Tường như liễu. Lý Bạch tả sắc đẹp Dương Quý Phi có câu: “Phù dung như diện liễu như mi” (Mặt như hoa phù dung, mày như liễu).

Nguồn: Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm, Sài Gòn, 1968