Mây Hồng Lĩnh ngàn tầm chót vót, mảnh gương nghĩa khí sáng soi chung;
Đất trời Nam một dãy mênh mông, giọt máu Hồng Bàng đau đớn nhẽ.

Nhớ cuộc biểu tình;
Tưởng người đồng chí.

Cũng có kẻ anh hùng nghĩa sĩ, rèn gan óc ghé vai xã hội, lên vũ đài gióng trống tự do;
Cũng có người liệt nữ anh thơ, cất trâm thoa đỡ gánh tang bồng, hô quần chúng phất cờ xướng nghĩa.

Kẻ lao khổ da trầy trán phỏng, trong áp bức nhịn hơi mấy độ, nghe tiếng vang mà tạc chữ đồng tâm;
Kẻ nông dân chân lấm tay bùn, dưới cường quyền bán sức bao lâu, theo luồng gió mà kết dây đoàn thể.

Nào anh, nào chị, chung cuộc đấu tranh;
Nào trẻ, nào già, một lòng hăng hái.

Miền Hoan quận tuôn tuôn dây đoàn thể, đưa tinh thần đòi lại lợi quyền chung;
Đất Hồng Sơn rực rực lửa đồng cừu, lấy tâm quyết thu về miền quốc tế.

Bể đâu ngán nỗi! Đường bán đồ mà gió đẩy mưa xô;
Non nước ngậm sầu! Thân vô tội bị sương vùi cát té.

Ôi!
Mịt mù mây bạc che núi Hoành Sơn;
Lác đác mưa sa tuôn dòng Nghèn Thuỷ.

Ngán nỗi chó săn hươu đuổi, điệu vu oan mả mẹ bọn quan trường;
Căm vì thú dữ hàm tàn, súng vô loại chém cha quân đế chế.

Tiếc là tiếc mấy thân tình máu mủ, thời chăng tá, mệnh chăng tá, trong phút chốc gặp cơn nguy hiểm, ngẩn ngơ chưa sông máu rừng xương;
Thương là thương hai lăm triệu đồng bào, sống cùng nhau, thác cùng nhau, bấy lâu nay riêng phận thiệt thòi, đau đớn đến buồng gan lá phế.

Sóng cạnh tranh dồn khắp cõi nhân hoàn;
Trường tranh đấu quản bao là số hệ.

Thân dù liều đạn lạc tên bay;
Danh đã nổi trời vang đất dậy.

Sức tranh đấu ngàn quân cũng nhỏ, đối phó chẳng phân gang tấc sắt, bấy lâu nay chí vững gan bền;
Nhẹ lông hồng một thác như chơi, xông pha dù vực thẳm hang khơi, toan một cuộc gươm cuồn súng nổ.

Thần tự do nhờ đó mà chiêu hồn;
Ma chuyên chế vì đây nên bạt vía.

Chết như thế vì nói vì chủng, hồn anh kiệt hô hào chín suối, đất náo thần giai;
Sống như ai chật núi chật sông, thói dã man quấy cút đồng cừu, mày trơ mặt bẽ.

Trong tiết trời đông;
Đặt văn phúng tế.

Dưới suối vàng có thấy cho chăng?
Trên trần thế tỏ lòng thương ngợi!


Chợ Cầu là một chợ lớn ở huyện Đức Thọ, Nghệ Tĩnh. Khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong bể máu, hàng loạt bài văn tế ra đời. Đây là một bài khuyết danh ra đời trong thời gian đó.

Nguồn:
1. Văn thơ yêu nước và cách mạng (tập III), NXB Giáo dục, Hà Nội, 1959
2. Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004