Nghe vẻ nghe ve,
Vè các thứ bánh.
Tròn như mặt trăng,
Đó là bánh xèo.
Có cưới có cheo,
Đó là bánh hỏi.
Đi không đặng giỏi,
Ấy là bánh bò.
Ăn không đặng no,
Nó là bánh ít.
Giống nhau như hịt,
Chính thức bánh in.
Mắc cỡ không nhìn,
Là bánh khổ qua.
Nấu nếp căng ra,
Là bánh xôi nước (trôi nước).
Biết đi biết bước,
Đó là bánh chưng.
Có núm trên lưng,
Lá bánh nhũ đệ.
Mật đường mà chế,
Là bánh đa trời.
Để đĩa có ngời,
Bánh trong, bánh lọc.
Giống như dễ mọc,
Chỉ là bánh gừng.
Lạt cột trên lưng.
Là cái bánh tét,
Bốn cẳng nó quét.
Đó là bánh quy.
Hay kiêng hay vì,
Là bánh xôi vị (dị).
Bỏ nó trong bị,
Đó là bánh bao.
Lóng lánh như sao,
Là bánh bột báng.
Tròn như viên đạn,
Đúng là bánh cam.
Ăn ở chơm bơm,
Thiệt là bánh ổ.
Tròn như lỗ dỗ,
Là cái bánh căng.
Cái mình có rằn,
Là bánh da lợn.
Trông thấy lợn cợn,
Đó là chè khoai.
Ăn vào ngứa hoài,
Đúng là bánh dứa.
Lấy trai có chửa,
Là cái bánh bầu.
Xe nhợ mà câu,
Thiệt là bánh chỉ.
Muốn ăn cho kỹ,
Thì ních tàu thung.
Thiêng hạ chẳng ưng,
Là cái bánh còng.
Xe nhợ mà vòng,
Đó là bánh nghệ.
Giã ra mà chế,
Thiệt là xu xoa.
Tưởng nhớ ông bà,
Thì ra bánh cúng.
Hấp ra có núm,
Đó là bánh trần.
Phơi để ngoài sân,
Là liếp bánh tráng.
Hai mùa sáu tháng,
Là bánh trung thu.
Đi lọng đi dù,
Đó là xôi rượu.


Nguồn: Đặng Anh Tú, Đồng dao Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 2009