鎮寺歸僧(II)

烏含西嶺兔東升,
鎮國歸來勸化僧。
柳陌花衢猶故道,
清風明月是良朋。
枝猿池鶩東西舞,
閣鼓樓鐘次第登。
自古更深塵不到,
禪心高掛照心燈。

 

Trấn tự quy tăng (II)

Ô hàm tây lĩnh thố đông thăng,
Trấn Quốc quy lai khuyến hoá tăng.
Liễu mạch hoa cù do cố đạo,
Thanh phong minh nguyệt thị lương bằng.
Chi viên trì vụ đông tây vũ,
Các cổ chung lâu thứ đệ đăng.
Tự cổ canh thâm trần bất đáo,
Thiền đăng cao quải chiếu tâm đăng.

 

Dịch nghĩa

Mặt trời lặn xuống phía tây, trăng mới nhú phía đông,
Vị tăng đi khuyến hoá trở về chùa Trấn Quốc.
Lối hoa đường liễu vẫn như xưa,
Gió mát trăng thanh là bạn tốt.
Vượn trèo chim vỗ nước múa hai bên đông tây,
Lầu chuông gác trống lần lượt leo.
Cảnh trí thâm u từ xưa bụi trần không dính tới,
Lòng thiền treo cao đèn chiếu tâm.


Bài thơ này chép trong Hà Thành thi sao 河城詩抄 (ký hiệu VHb.319, do Trần Duy Vôn, hiệu Nhàn Vân Đình 閒雲亭 soạn trước năm 1975, chép các bài thơ viết về Hà Nội từ đời Trần đến đời Nguyễn hiện còn được giữ lại trong Hoàng việt thi tuyển, Truyền kỳ lục, Thăng Long cổ tích khảo...).

Nguồn: Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh

Non tây ác ngậm thỏ đông lên,
Khuyến hoá tăng về lại cửa chiền.
Dặm liễu đường hoa còn lối cũ,
Trăng thanh gió mát ấy bầu hiền.
Vượn cây cò bãi đông tây múa,
Góc trống lầu chuông lần lượt men.
Tự cổ canh khuya trần chẳng nhiễm,
Đèn tâm cao chiếu giữa lòng thiền.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Quạ xuống non đoài, đông mọc trăng
Khuyến đạo về chùa một lão tăng
Bờ liễu đường hoa nguyên lối cũ
Gió mát trăng thanh kết thân bằng
Cây vượn hồ cầm đông tây múa
Gác trống lầu chuông vẫn lên băng
Từ cổ canh thâu không vương bụi
Tâm thiền đèn cao chiếu vĩnh hằng

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời