Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ca trù (hát nói)
Thời kỳ: Cận đại

Đăng bởi tôn tiền tử vào 08/02/2020 17:17

退歸田里

既自以身為形役,
三十年回首事何如。
菊松三徑是吾盧,
舊詩句獨吟還獨笑。
新鏡霜毛愁自照,
故鄉鱸膾夢初還。
算此身歷幾江山,
而今覺迷途其未遠。
病鶴傷鴻君不見,
倦飛之鳥已知歸。
鷦鷯不過一枝。

 

Thoái quy điền lý

Ký tự dĩ thân vi hình dịch,
Tam thập niên hồi thủ sự hà như.
Cúc tùng tam kính thị ngô lư,
Cựu thi cú độc ngâm hoàn độc tiếu.
Tân kính sương mao sầu tự chiếu,
Cố hương lư khoái mộng sơ hoàn.
Toán thử thân lịch kỷ giang san,
Nhi kim giác mê đồ kỳ vị viễn.
Bệnh hạc thương hồng quân bất kiến,
Quyện phi chi điểu dĩ tri quy.
Tiêu liêu bất quá nhất chi.

 

Dịch nghĩa

Đã đem thân ra làm tôi tớ thể xác
Ba mươi năm ngoảnh lại sự nghiệp thế nào
Ba dãy cúc tùng là nhà ta
Câu thơ cũ ngâm một mình lại cười một mình
Soi gương thấy tóc mới trắng nghĩ mà buồn
Vừa mơ thấy gỏi cá lô ở chốn cố hương
Tính lại thân này từng trải với non sông
Mà nay biết đường nhầm chưa xa mấy
Hạc ốm hồng đau ngươi chẳng thấy
Chim bay mỏi cánh đã biết đường về
Chim chả chiện kia chẳng qua chỉ đậu một cành cây thôi



Nguồn: Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962