Mái đông lân có nàng ngơ ngẩn,
Vẻ thoa quần, nhà vẫn khó khăn.
Mười lăm mười tám đang xuân,
Sánh chàng công tử mười phần phong lưu.
Chàng công tử sang giàu nếp sẵn,
Chốn hương khuê, son phấn lả lơi.
Biết mình xấu chẳng bằng ai,
Dám mong âu yếm như người được sao.
Phúc gặp buổi ba đào gấp khúc,
Lũ vô loài dạo dục mái tây.
Nào ngờ nông nỗi nước này,
Chàng vừa đi khỏi, của rầy sạch tan!
Chị em vốn điểm trang quen nết,
Ngại đắng cay quên hết ái ân.
Theo người sửa túi nâng khăn,
Nhạt tình khâm trẩm, mặn phần nguyệt hoa.
Nàng nghĩ đến xót xa khúc ruột,
Đường khi khu một bước một đau.
Răng long tóc rối thêm rầu,
Dao hàn cắt ruột lửa sầu đốt gan.
Phường cán xa mấy nàng bạn cũ,
Tình chị em khuyên nhủ mọi đường:
Tội gì chấp nệ kinh thường,
Tìm nơi tựa ngọc nương vàng thì thôi.
Nàng nghe hết khúc nhôi thêm giận,
Rằng: “Chồng ta là đấng nam nhi;
Chẳng may gặp buổi loạn ly,
Dẫu rằng tân khổ, có kỳ vinh hoa.
Nhớ thủa trước mẹ cha dạy bảo,
Đạo chính chuyên là đạo làm dâu.
Ơn chàng non thẳm bể sâu,
Dẫu trong nguy hiểm dám đâu quên tình.
Cơ hoạ phúc phân minh báo ứng,
Của phù vân đã vững bền du.
Liều mình vì chút ấm no,
Ấm no chưa chắc, mặt mo thêm càng!
Nghĩa báo phục kìa nàng Trưng Trắc,
Miếu Đồng Nhân thơm nức ngàn thu.
Thiếp thân chưa chút đền bù,
Ngắm người xưa chẳng thẹn thò lắm ru?
Lại như vợ chàng Chu thủa nọ,
Tình khinh bần trọng phú gớm thay!
Nước nghiêng bốc lại sao đầy?
Trăm năm tiếng xấu để lây má hồng!
Ơn chị em, có lòng vị nể,
Chuyện bướm ong gác để ngoài tai.
Ngu si biết phận thế thôi,
Mong sao được thấy chồng tôi sớm về.


Bài thơ này tương truyền của một vị trung thần triều Nguyễn không chịu ra làm quan.

Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 125, tháng 1-1928