Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Ba mươi Tết, Tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô[1] đốt vàng cho chú khách[2].
Một tay cầm cái dù rách,
Một tay xách cái chăn bông.
Em đứng bờ sông, em trông sang bên nước người.
Hỡi chú chiệc[3] ơi, là chú chiệc ơi,
Một tay em cầm quan tiền,
Một tay em xách thằng bù nhìn.
Em ném xuống sông,
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm.
Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi,
Ai ôi, của nặng hơn người.


Chú thích:
[1]
Trung Quốc. Thời Lê - Mạc, dân ta gọi nước Trung Quốc là Ngô, gọi người Trung Quốc là người Ngô.
[2]
Một cách gọi người Hoa sống ở Việt Nam. Từ này bắt nguồn từ chữ “khách trú,” cũng gọi trại thành “cắc chú”.
[3]
Từ gọi một cách bình dân, thiếu tôn trọng dành cho người Hoa sinh sống ở nước ta. Có ý kiến cho rằng từ này có gốc từ từ “a chệch”, cách người Triều Châu (một vùng ở Trung Quốc) gọi chú (em của bố). Hiện nay từ này hay bị viết và đọc nhầm là “chệt” hoặc “chệc”. Ở miền Bắc, từ này có một biến thể là “chú chiệc”.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]