Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

題鎮國寺

梵宇巍峨氣色新,
風光別占鳳城春。
鳥啼古樹留清韻,
魚躍晴湖見碧鱗。
風裡鐘聲如擣月,
石邊花色欲陵人。
不知勝日尋芳客,
多少攜觴來問津。

 

Đề Trấn Quốc tự

Phạm vũ nguy nga khí sắc tân,
Phong quang biệt chiếm phụng thành xuân.
Điểu đề cổ thụ lưu thanh vận,
Ngư dược tình hồ kiến bích lân.
Phong lý chung thanh như đảo nguyệt,
Thạch biên hoa sắc dục lăng nhân.
Bất tri thăng nhật tầm phương khách,
Đa thiểu huề trường lai vấn tân.

 

Dịch nghĩa

Chùa phật nguy nga cảnh sắc như mới,
Phong quang biệt chiếm mùa xuân phượng thành.
Cổ thụ chim kêu lưu giọng hót,
Cá nhảy hồ trong thấy vẩy xanh.
Trong gió tiếng chuông như lay bóng nguyệt trên mặt nước,
Bên bờ đá màu hoa thắm như muốn thúc giục lòng người.
Không biết các vị khách thưởng ngoạn ngày đẹp,
Có bao người cùng nhau nâng chén hỏi thăm đường.


Bài thơ này chép trong Xuyết thập tạp ký 掇拾雜記 (ký hiệu A.1792, chưa rõ người soạn và niên đại).

Chùa Trấn Quốc ( 21.048,105.837): Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía đông Hồ Tây, gần đường Thanh Niên, thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chùa có lịch sử gần 1500 năm và được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Thời nhà Lý và nhà Trần, đây là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Chùa được dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng, nguyên tên là chùa Khai Quốc. Đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thuý Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

Chùa Trấn Quốc
Hình: Chùa Trấn Quốc



[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh

Chùa cổ nguy nga cảnh sắc tân,
Phong quang riêng chiếm góc phượng thành.
Chim kêu cổ thụ nghe trong trẻo,
Cá nhảy hồ trong lộ vẩy xanh.
Trong gió tiếng chuông lay bóng nguyệt,
Bên bờ hoa cỏ động lòng xuân.
Chẳng hay những khách vui ngày đẹp,
Bao kẻ nâng ly hỏi đạo nhân.


Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Chùa phật nguy nga khí sắc xuân
Cảnh tượng phượng thành chiếm riêng phần
Cổ thụ chim kêu âm thanh nhã
Hồ trong cá nhảy vảy biếc ngần
Trong gió tiếng chuông rung ánh nguyệt
Bờ đá sắc hoa động lòng nhân
Chẳng hay ngày đẹp bao quý khách
Ai nâng chén hỏi bến qua trần?


Chưa có đánh giá nào
Trả lời