Ông là Thừa phái Hoàng Nông,
Ông ngồi ông nghĩ mình ông thật “thừa”.
Thế gian người đã đủ vừa,
Cớ chi giời lại lọc lừa ra ông?
Mắt thừa ông chẳng buồn trông,
Thấy gái má hồng ông liếc ông chơi.
Tai thừa ông chẳng nghe ai,
Thấy chuyện nực cười, ông ghé thoảng qua.
Miệng thừa ông chẳng nói ra,
Thấy chuyện mặn mà, ông nói đủ nghe.
Tay thừa ông chẳng muốn phê,
Thấy dấu đỏ loè, ông vẽ mực đen.
Chân thừa ông chẳng muốn chen,
Thấy bước đường liền, ông bước ông đi.
Bụng thừa ông chẳng muốn suy,
Ông cứ gan lỳ mà việc cũng xong.
Hỏi còn thừa cái gì không?
Còn thừa một cái dấu trong đũng quần.
Những ai lịch sự thanh tân,
Hỏi rằng có thiếu, muốn mần, ông cho.
Ngán cho cái bọn nhà nho,
Mất tiền mất bạc mà lo ông thừa!


Bài thơ này tương truyền của một ông thừa phái huyện Hoàng Nông (chưa rõ địa danh ở đâu), không rõ họ tên, và được truyền tụng nhiều ở Bắc Kỳ trước đây. Tác giả là một nhà nho tài học uyên bác mà chỉ đỗ tú tài, sau vì sinh kế eo hẹp bất đắc dĩ phải xin đi làm thừa phái là bậc thấp nhất trong ngạch “lại”. Làm mà miễn cưỡng thành ra không mẫn cán, vả lại sẵn cái tâm trạng bất đắc chí nên thường phát ra lời thơ không được từ tốn. Chức thừa phái bây giờ mới có làm việc quan. Còn ngày xưa, thừa phái cũng như hành tẩu, hậu bổ, người nào ưa hoạt động mà lại ở cái địa vị ấy thì thôi, sự bực mình không còn phải nói nữa. Toàn bài vận dụng một chữ “thừa” để tỏ ra cái vị trí của mình là không ăn thua vào đâu cả.

Nguồn:
1. Phan Khôi, “Chương Dân thi thoại”, Tạp chí Sông Hương, Huế, số 2, ngày 8-8-1936
2. Lãng Nhân, Chơi chữ, Nam Chi tùng thư, 1970