迢迢牽牛星

迢迢牽牛星,
皎皎河漢女。
纖纖擢素手,
札札弄機抒。
終日不成章,
泣涕零如雨。
河漢清且淺,
相去復幾許!
盈盈一水間,
脈脈不得語。

 

Điều điều Khiên Ngưu tinh

Điều điều Khiên Ngưu tinh,
Hạo hạo Hà Hán nữ.
Tiêm tiêm trạc tố thủ,
Trát trát lộng cơ trữ.
Chung nhật bất thành chương,
Khấp thế linh như vũ.
Hà Hán thanh thả thiển,
Tương khứ phục kỷ hứa!
Doanh doanh nhất thuỷ gian,
Mạch mạch bất đắc ngữ.

 

Dịch nghĩa

Sao Khiên Ngưu xa xa,
Cô gái bên sông Ngân Hà trắng muốt.
Khẽ cử động cánh tay nhỏ thon,
Chiếc khung cửi chuyển động nghe lách cách.
Suốt ngày dệt lụa nhưng chẳng thành tấm,
Nước mắt rơi xuống như mưa.
Sông Hán trong lại nông,
Mà sao xa cách đã bao lâu!
Cách nhau một dòng nước nông cạn,
Nhìn nhau đăm đăm không nói nên lời.


Đây là bài thứ 10 trong 19 bài ngũ ngôn cổ thi khuyết danh đời Hán, bắt chước thơ của Lý Lăng 李陵, Tô Vũ 蘇武, đánh dấu việc thơ ngũ ngôn đã trở nên thuần thục uyển chuyển.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Sao Khiên Ngưu xa xăm,
Ngân Hà người trắng muốt.
Nho nhỏ động tay thon,
Lách cách khung cửi động.
Cả ngày dệt không thành,
Lệ như mưa rớt xuống.
Sông Hán trong lại nông,
Xa cách thời bao thuở?
Lóng lánh nước một dòng,
Đăm đăm lời chẳng cất.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Châu Hải Đường

Xa xa kìa ánh sao Ngưu;
Lung linh Chức Nữ bên đầu dòng Ngân
Búp tay thon thả trắng ngần;
Thoi đưa lách cách chuyên cần cửi canh.
Trọn ngày tấm lụa chưa thành;
Mà sao nước mắt tuôn tràn như mưa.
Sông Ngân một dải nông sờ;
Cách nhau nào có bao xa đâu nào.
Một dòng nước chảy nao nao,
Mà không nói được biết bao tâm tình.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời