Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

15.00
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Kinh thi
Thời kỳ: Chu
5 bài trả lời: 3 bản dịch, 2 thảo luận

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 30/09/2005 11:10, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 15/06/2025 12:09

竹竿 2

泉源在左,
淇水在右。
女子有行,
遠兄弟父母。

 

Trúc can 2

Tuyền Nguyên[1] tại tả.
Kỳ[2] thuỷ tại .
Nữ tử hữu hành,
Viễn huynh đệ phụ mỵ.

 

Dịch nghĩa

Sông Tuyền Nguyên ở phía tay trái,
Sông Kỳ ở phía tay phải.
Người con gái di theo chồng,
Phải xa cha mẹ anh em.


Chú giải của Chu Hy:
Chương này thuộc phú.

Nhớ hai con sông ấy ở nước Vệ mà tự than thở cho mình không được như thế (được ở tại nước Vệ).

Chú thích:
[1]
Sông Bách Tuyền, phía tây bắc nước Vệ, phía đông nam mà chảy vào sông Kỳ, cho nên mới nói là ở phía tay trái.
[2]
Sông Kỳ ở phía tây nam nước Vệ, hướng về phía đông mà chảy hợp với sông Bách Tuyền, mới nói là ở phía tay mặt.

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Quang Phát

Tuyền Nguyên ở phía tả này,
Sông Kỳ phía hữu chảy dài xa xôi.
Theo chồng con gái đi rồi,
Anh em cha mẹ chia phôi muôn trùng.


Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tản Đà

Bên tả thời có Tuyền Nguyên
Sông Kỳ thời ở về bên hữu này
Làm thân con gái xưa nay
Anh em, cha mẹ, có ngày xa xôi


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Tuyền Nguyên ở phía tả tay,
Sông Kỳ ở phía phải này chảy xuôi.
Người con gái lấy chồng rồi,
Phải xa cha mẹ cùng thời anh em.


15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

MỘT VÀI GÓP Ý NHỎ VỀ VIỆC NHẦM LẪN TRONG BẢN PHIÊN ÂM CỦA MỘT SỐ BÀI THUỘC MỤC "PHONG, THI KINH" (Lấy câu cuối của bài Trúc can 2, Vệ phong, Phong làm ví dụ).

1. Ở câu cuối, page viết: “Viễn phụ mẫu huynh mỵ (đệ).” Căn cứ theo bản chữ Hán của page cung cấp thì phải dịch phiên âm Hán Việt thành: “Viễn huynh đệ phụ mẫu” chứ? Sao lại thành “Viễn phụ mẫu huynh mỵ” được nhỉ? Có rất nhiều vấn đề cần bàn ở câu này:

Thứ nhất, tại sao lại tự ý đổi ngược thứ tự “huynh đệ” và “phụ mẫu”, cho khác với “bản gốc” chữ Hán mà page cung cấp?

Thứ hai, cứ tạm thời bỏ qua việc đổi trật tự, thì chữ “MỴ” kia hẳn là chữ “đệ/đễ” (chỉ có 2 âm này, không còn âm khác có âm chính /y/ hay âm đầu /m/ nữa) đổi âm cho hợp vận thơ. Vậy xin hỏi, chữ M (biến âm đầu) của MỴ ở đâu ra, nếu nói Y (biến âm chính) kia đã có biến âm hợp vận? Nếu nói chữ cuối đó là MẪU (khiến cho việc biến âm đầu, đặt chữ M vào đó trở nên có lý) thì dường như cũng không có lý lắm khi mà trước đó đã có MẪU, và thường trật tự từ (cả trong tiếng Trung và tiếng Việt) cũng thường chỉ có cha đi với mẹ, anh em đi với nhau, hoàn toàn không có chuyện anh đi với mẹ, tôi đi với cha được.

Thứ ba, về căn cứ biến âm của “đệ/đễ” ở câu 4 là dựa vào HĨ/ HỮU ở câu 2. Ở câu 2 page viết: “Kỳ thuỷ tại hĩ (hữu).” Căn cứ như vậy thì đó hoàn toàn là một căn cứ rất không vững chắc. Theo Baxter và Sagart trong cuốn Old Chinese (NXB ĐH Oxford, 2014, trang 373) có ghi: “右 yòu hjuwX < *[ɢ]wəʔ ‘right hand’”, thì âm Hán trung cổ là “hjuwX” với âm chính (có lẽ) là “juw” và âm Hán thượng cổ (thời của Thi Kinh được viết) là *[ɢ]wəʔ với âm chính nhiều khả năng là gần với “ươ” trong tiếng Việt. Ở đây, không thấy có phiên âm nào là HĨ để 第 (đệ/đễ) dựa vào đó mà biến âm. Kết lại, từ nguồn của Baxter thì 右 RẤT KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG ĐƯỢC ĐỌC LÀ “HĨ” như quý page đã viết.

2. Không biết page lấy nguồn từ sách nào (lấy sách nào thì phải theo đúng như sách, sách sai dẫn đến page sai) hay sao? Nhưng riêng mấy bài trong phần Phong - Kinh thi này thì thường có những cái tự ý (?) đổi phiên âm cho hợp vận của thơ, nhưng tra căn cứ các phiên âm cổ thì không có khả năng. Thậm chí còn ghi sai thứ tự các chữ so với bản chữ Hán mà page đã cung cấp, như mục “thứ nhất” và “thứ hai” đã bàn đến ở trên, trôi qua gần 20 năm (01/10/2005 - 14/06/2025) vẫn chưa được quan tâm sửa lại. Hoặc chí ít cũng chú thích lại, nếu sách gốc trước đây có vì một lí do nào đó dẫn đến việc sai sót như thế.

Trên đây là một số góp ý nhỏ, mong quý page khi tinh chỉnh lại hệ thống, có thể cân nhắc chỉnh lý nội dung đã đề cập để phục vụ trải nghiệm của bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Về nguồn tham khảo các bài Kinh thi trên TV

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Nếu bạn tìm hiểu về KT thì đều biết các chú giải tới nay đều xuất phát từ Mao thi, Trịnh Huyền rồi đến đời Tống được Chu Hy đựa vào Mao thi mà chú giải lại toàn bộ. Mỗi chữ mỗi câu trong KT đều có những thuyết giải nghĩa và cách phiên âm đọc khác nhau, nhưng tựu chung đều bắt nguồn từ những học giả đó. Các âm đọc vào thời Khổng Tử với hiện nay đương nhiên là đã thay đổi rất nhiều, và các bài trong KT cũng được thu thập từ những địa phương khác nhau nên chắc chắn hiện không thể có căn cứ để tìm được âm đọc chính xác. Do đó, hiện nhiều chữ trong KT có những cách đọc khác nhau, nhưng về căn bản khó có thể khẳng định cách nào đúng cách nào sai.

Bản dịch của Tạ Quang Phát dựa trên Thi kinh tập truyện của Chu Hy, trước đây được xuất bản thành sách Thi kinh tập truyện năm 1968. Về sau bộ sách này được nhiều NXB in lại, trong đó có NXB Văn học (1991), NXB Đà Nẵng (2003), nhưng đều được biên tập lại và chỉ gọi là Kinh thi. Thi kinh tập truyện của Chu Hy không chỉ có giải nghĩa mà còn có cả phiên thiết các chữ. Sách của TQP trước đây cũng chú âm theo đó, nhưng không rõ vì đâu mà các bản biên tập lại không giữ các âm đó mà đổi hết thành âm thường dùng. Các bài KT trên TV, phần Phong trước đây do một bạn gõ lại từ sách của TQP. Bạn đó làm hết phần Phong thì không tiếp tục. Phần Nhã được những thành viên khác căn cứ theo cách sách xuất bản sau này.

Cụ thể về bài đề cập tới ở đây, sách của TQP tôi không có, nhưng sách của Chu Hy thì có sẵn trên các mạng của Trung Quốc. Bài này được chú như sau:
泉源在左、淇水在右〈叶羽軌反〉。女子有行、遠〈去聲〉兄弟父母〈叶滿彼反〉。

Tôi không rõ vì đâu 羽軌反 được TQP đọc thành “hĩ” mà không phải “vĩ”, nhưng có thể thấy không đọc là “hữu” và “mẫu” là theo các căn cứ nghiêm túc, không phải “tự ý” như bạn nói.

Chỗ đổi thứ tự phiên âm ở câu cuối thì có lẽ đơn giản chỉ là lỗi của người gõ, vì không có sách gốc nên tôi không thể kiểm tra được, nên tạm sửa lại.


Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Trả lời