Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Kinh thi
Thời kỳ: Chu
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 03/10/2005 01:58

汾沮洳 1

彼汾沮洳,
言采其莫。
彼其之子,
美無度;
美無度,
殊異乎公路。

 

Phần tứ nhu 1

Bỉ Phần tứ nhu,
Ngôn thái kỳ mộ.
Bỉ ký chi tử,
Mỹ vô độ.
Mỹ vô độ.
Thù dị hồ công lộ.

 

Dịch nghĩa

Nơi đất có nước trũng thấp xuống ở sông Phần kia,
Nói là di hái rau mộ.
Người kia ấy,
Đẹp thì đẹp thật, không thể lấy thước tấc mà đo lường được.
Tuy đẹp mà không đo lường được,
Nhưng rất khác xa với bực sang trọng làm quan công lộ (vì thói hà tiện, hẹp hòi, hấp tấp).


Chú giải của Chu Hy:

Chương này thuộc hứng.

Phần: tên con sông Phần chảy ra từ núi Tấn Dương ở Thái Nguyên, hướng về phía Tây Nam mà nhập vào sông Hoàng Hà.
tứ nhu: chỗ đất có nước trũng thấp xuống.
mộ: thứ rau giống như cây lá liễu, đầy mà dài, có lông có gai, nấu canh ăn được.
vô độ: nói không thể lấy thước tấc mà đo lường được.
công lộ: nói chức quan giữ xe của cọng hầu đi, nước Tấn lấy con thứ (không phải đích) của quan khanh đại phu làm chức ấy.

Đây cũng là bài thơ châm biếm việc cần kiệm không đúng lễ.

Nói như người đẹp ấy thì đẹp vậy, nhưng thói hà tiện hẹp hòi và vội vàng rất không giống như người sang trọng.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Quang Phát

Sông Phần chỗ nước trũng sâu,
Nói đi là hái những rau mộ này.
Người kia như thế ô hay!
Đẹp thì đẹp thật, chẳng tài nào đo.
Đẹp mà chẳng thể độ dò,
Với quan công lộ thật so khác nhiều.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Thọ (I)

Sông Phần lội lặm đôi bờ,
Bóng ai lác đác lững lờ hái me.
Chàng kia đẹp đẽ như huê,
Nhưng chưa ra dáng ruổi xe vương hầu.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời