Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
3 bài trả lời: 2 bản dịch, 1 thảo luận

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi hongha83 vào 12/05/2014 16:35, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 12/08/2021 23:17

登滿月臺懷古

古寺蕭然傍御溝,
夕陽喬木使人愁。
煙霞冷落殘僧夢,
歲月崢嶸破塔頭。
黃鳳羽歸飛鳥雀,
杜鵑花發牧羊牛。
神崧憶得繁華日,
豈意如今春似秋。

 

Mãn nguyệt đài hoài cổ

Cổ tự tiêu nhiên bạng ngự câu,
Tịch dương kiều mộc sử nhân sầu.
Yên hà lãnh lạc tàn tăng mộng,
Tuế nguyệt tranh vanh phá tháp đầu.
Hoàng phụng vũ quy phi điểu tước,
Đỗ quyên hoa phát mục dương ngưu.
Thần Tung ức đắc phồn hoa nhật,
Khởi ý như kim xuân tự thu.


Mãn Nguyệt đài (Manwoldae, 만월대) vốn là cung điện chính của triều đại Cao Ly (Goryon) tại kinh đô Khai Thành (Kaesong), sau bị cháy và phá huỷ. Đến triều đại Triều Tiên (Joseon), di tích còn lại được gọi là Mãn Nguyệt đài.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Thị Bích Hải

Chùa cổ tiêu điều bên ngự câu,
Chiều buông cổ thụ khiến ai sầu.
Khói mây lạnh lẽo sư tàn mộng,
Năm tháng chênh vênh tháp mẻ đầu.
Cánh phượng về đâu chim sẻ lượn,
Đỗ quyên hoa nở thả dê trâu.
Thần Tùng nhớ mãi phồn hoa cũ,
Nào biết xuân này xuân tựa thu.


Nguồn: Những kỳ nữ trong thơ ca Đông Á, NXB Văn hoá - Văn nghệ, 2014
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nguyên văn chữ Hán

Bản chữ Hàn ở trên là bản phiên âm chữ Hán của bài thơ. Bài thơ có nhan đề Đăng Mãn nguyệt đài hoài cổ (登滿月臺懷古), Lên đài Mãn nguyệt nhớ khi xưa

古寺蕭然傍御溝
夕陽喬木使人愁
煙霞冷落殘僧夢
歲月崢嶸破塔頭
黃鳳羽歸飛鳥雀
杜鵑花發牧羊牛
神崧憶得繁華日
豈意如今春似秋

Phiên âm:

Cổ tự tiêu nhiên bàng ngự câu
Tịch dương kiều mộc sử nhân sầu
Yên hà lãnh lạc tàn tăng mộng
Tuế nguyệt tranh vanh phá tháp đầu
Hoàng phượng vũ quy phi điểu tước
Đỗ quyên hoa phát mục dương ngưu
Thần Tung ức đắc phồn hoa nhật
Khởi ý như kim xuân tự thu

Nguồn: Thiều hoạch đường tập (韶濩堂集) của Kim Taek Young (Kim Trạch Vinh) 김택영 (金澤榮), quyển Khai thành tạp sự truyện (開城雜事傳), phần Danh viên truyện (名媛傳).


- Mãn nguyệt đài (Manwoldae, 만월대): vốn trước đây là cung điện chính của triều đại Cao Ly (Goryon) tại kinh đô Khai thành (Kaesong), sau bị cháy và phá huỷ. Đến triều đại Triều Tiên (Joseon) di tích còn lại được gọi là Mãn nguyệt đài.
- Thần Tung: điển tích từ Kinh Thi, phần Đại Nhã, bài Tung cao. Núi Tung sơn, thuộc Ngũ nhạc, ngọn núi cao lớn có linh khí của trời đất, có thần giáng xuống.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đông A

Chùa cổ tiêu diêu cạnh lạch hầu
Cây cao chiều đổ xiết bao sầu
Ráng mây lãnh đạm tàn sư mộng
Năm tháng đìu hiu phá tháp đầu
Loan phượng cánh về bay chích sẻ
Đỗ quyên hoa nở bãi dê trâu
Thần Tung nhớ được ngày hoa lệ
Há nghĩ như giờ xuân tựa thu

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời