Tặng thiếu nhiên Việt Nam anh hùng

Anh viết bài thơ kể chuyện xưa
Tặng mừng muôn triệu em bây giờ
Chúng ta con cháu dòng Phù Đổng
Cứu nước vùng lên tự tuổi thơ
Giặc Mỹ ngày nay gieo thuốc độc
Lo dân không phải việc nhà vua
Cứu nhà cứu nước dân theo Đảng
Hào kiệt là con cháu Bác Hồ
Nhớ lại cha ông từ mở cõi
Đã lên ngựa sắt, nhổ tre bờ
Quật tan giặc nước. Bàn tay ấy
Nay cắm chông tre lùa Mỹ vô.


I

Thuở ấy lũ giặc Ân
Như một luồng gió độc
Thổi tràn vào đất nước
Tên còn gọi Văn Lang.

Sông nghẹn dòng sủi váng
Cỏ cháy rụi bên đường
Nước nhà cơn hoạn nạn
Đau đớn cả vừng dương.

Chân giặc đi lở núi
Lính ngựa kéo rần rần
Thế khó bề chống giữ
Ta tổn tướng hao quân.

Chồng: giặc bắt làm lính
Vợ: nó cướp làm hầu
Chúng giết sạch, đốt sạch
Trụi vườn xanh, ao sâu.

Vua liền sai sứ gia
Loa gọi khắp xa gần
Hỏi ai người thiên hạ
Ra cứu nước, phò dân.

Tiếng loa gọi anh tài
Sông chạy truyền xuống biển
Núi dội tiếng tù và
Tận hang cùng, ngõ hẻm.

Ngựa sứ giả đã mệt
Đi khắp chợ cùng quê
Mà ai người hào kiệt
Vẫn chưa nghe tâu về.

Lệnh về huyện Tiên Du
Lệnh về làng Phù Đổng
Đồi cùng ruộng nhìn nhau
Hỏi đâu người dũng tướng


II

Làng có một nhà khó
Sinh con chẳng biết ngồi
Nêu ba lần dựng ngõ
Con chẳng nói chẳng cười.

Cha chết, mẹ tảo tần
Nuôi con, nhà chiếc bóng.
Mẹ chẳng sợ con lăn
Nằm thúng treo lên gióng.

Buổi chợ về hạ thúng
Cho con bú, nựng con:
- “Mẹ như gà ấp trứng,
Con bao giờ lớn khôn?”

Chợt nghe tiếng loa gọi
Em bé vụt lớn lên
Thúng bỗng thành chật chội
Đứt cả những đường niền!

Mẹ mới ngạc nhiên sao!
Lần đầu em cất tiếng:
- “Mẹ mời sứ giả vào
Cho con thưa câu chuyện”.

Giọng em nói ầm vang
Như sấm chiều mùa hạ.
Mẹ già nghe bàng hoàng
Nửa mừng và nửa lạ.

Sứ gia vào, kinh ngạc,
Con ngựa hí reo lên
Cổ vang rền lục lạc
Rồi co vó quỳ bên.

- “Nhờ sứ gia tâu vua
Cho tôi con ngựa sắt
Nặng nghìn cân thì vừa
Và kiếm rèn thật sắc!”

Sứ vội vã về triều
Đi nhanh hơn gió thổi.
Lá bên đường quạt theo
Cho ngựa phi đừng mỏi


III

Vua mừng khôn xiết kể
Gọi một nghìn thợ rèn
Đục núi cao làm bễ
Lửa rực trời ngày đêm.

Tháng, rèn xong ngựa sắt
Cao bằng ba mái nhà
Đứng đâu làm lún đất
Kiếm treo bên chói loà.

Một đoàn trăm con voi
Ào ào hơn biển động
Đạp rừng, băng suối ngòi
Kéo ngựa về Phù Đổng.

Đón ngựa xong, thần tướng
Ăn liền ba vạc cơm
Vươn vai lớn mười trượng
Bóng che trùm cả thôn.

Rồi kiếm báu ngang mày
Cúi đầu từ giã mẹ,
Mẹ nhìn con, bằng khuâng
Thương như hồi tấm bé.

Tay khấn trời, mẹ nói:
- “Nay con đã thành thần
Hãy nghe lời vua gọi
Đi cứu nước phò dân”.

Tướng thần vội quay đầu
Nhìn lại nhà lại chõng
Nhìn thúng treo đầu gióng,
Thương mẹ, lặng hồi lâu.

Con ngựa thấu lòng người
Giẫm rền hai vó sắt.
Rồi nó hí vang trời.
Bờm xé mây phần phật.


IV

Tướng thần ngồi yên ngựa
Ngựa oằn lưng, giậm chân
Cúi chào mẹ lần nữa
Và xóm làng người thân...

Vó ngựa phi như bay
Ngựa hí rụng cành lá
Gió cát nổi mù trời
Núi giật mình rạn đá.

Kiếm vung loè chớp sấm
Sáng trong tay tướng thần
Một nước phi ba dặm
Chém tơi bời giặc Ân

Kiếm chém ngang chém dọc
Chém nhanh, thép đỏ bừng
Như chân trời lửa mọc...
Giặc cụt đầu, mất lưng.

Bỗng kiếm va núi đá
Trong tay loè gẫy ngang
Tay nhổ tre từng bụi
Quật giặc chết tan hoang

Ngựa phun lửa từng hồi
Giặc cháy, khét râu tóc
Cháy rặng tre bên đồi
Giờ hãy còn sém gốc

Ngựa giậm chân động đất
Giặc lưng núi lăn kềnh
Từ đầu Lạng Giang phủ
Đến cuối rừng Vũ Ninh.

Giặc nát ra như nước
Giặc tan ra như bèo
Máu giặc làm sông đỏ
Thây giặc trôi tựa rều...

Tàn quân Ân nhớn nhác
Chạy trốn luồng lửa thiêu,
Tướng vứt bỏ áo giáp
Lính quăng cả nồi niêu

Tướng trời làng Phù Đổng
Dừng ngựa nhìn nước non
Núi sông tan bóng giặc
Lại vui vầy sớm hôm.

Cỏi giáp bào để lại
Tay quất vó ngựa lồng
Ngoái chào non nước cũ
Bay khuất giữa mây hồng.


1964

Bài thơ này không có trong tập Hai bàn tay em trong bản in của NXB Kim Đồng năm 1969.

Nguồn: Huy Cận, Hai bàn tay em, NXB Văn học, 1967