Một nắm xương tàn một nắm da,
Bao nhiêu cái ách cũng từng qua.
Đuôi cùn biếng cột Điền Đan hoả,
Tai nặng buồn nghe Nịnh Tử ca.
Sớm dạo vườn Nghiêu ăn hủng hỉnh,
Chiều về nội Võ thở hi ha.
Ngày xưa mắc phải nơi Đường hạ,
Ơn có Tề vương cứu lại tha.


Có tài liệu cho tác giả bài thơ là Nguyễn Khuyến, hoặc Đặng Đức Siêu.

Khảo dị:
Một nắm xương tàn một nắm da,
Bao nhiêu cái ách cổ từng qua.
Đuôi cùn biếng vẫy Điền Đan hoả,
Tai nặng buồn nghe Nịnh Thích ca.
Nương bóng rừng đào nhơi lễ lảo,
Nhìn gương cung quế
thở phì phà.
Bôi chuông nhớ thuở thân gần luỵ
,
Ơn đội Tề vương chết được tha.

- Rừng đào: Chu Võ Vương sau khi diệt Trụ xong, phóng trâu vào Đào Lâm, thả ngựa lên Thái Hoa, để tỏ cùng dân chúng rằng trong nước từ đây sẽ luôn luôn thái bình nên trâu ngựa dùng trong việc binh không cần đến nữa.
- Cung quế: Tức mặt trăng, mượn ý trong câu “Ngô ngưu suyễn nguyệt” nói chuyện con trâu nước Ngô cả ngày cày mệt mỏi, tối về chuồng vừa nằm nghỉ chợt thấy trăng mọc ngỡ trời sáng, nghĩ đến thân phận mà thở dài.
Nguồn:
1. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004
2. Quách Tấn, Hương vườn cũ, NXB Hội nhà văn, 2007