Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Ngân ngất tầng mây một dải cờ[1],
Kinh thành ngày trước tỉnh bây giờ[2].
Tượng đồng Trấn Vũ[3] hương còn ngát,
Bia đá Khuê Văn[4] chữ chửa mờ.
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới,
Hồ sông lai láng bóng trăng xưa.
Nào ai cố lão ra đây hỏi,
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa.


(Theo bản Tạp thảo tập)

Khảo dị:

- Bản Âm ca tập
Vịnh Thăng Long thành

Chân ngất tầng mây một dải cờ,
Kinh thành ngày trước tỉnh bây giờ.
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát,
Bia đá Khuê Văn chữ chửa mờ.
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới,
Hồ sông lai láng bóng trăng xưa.
Gặp ai cố lão ra rồi hỏi,
Chốn cũ phồn hoa phải chưa.
- Bản Xuân Hương thi sao
Thăng Long thành hoài cổ

Ngân ngất tầng mây một dải cờ,
Kinh thành ngày trước tỉnh bây giờ.
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát,
Bia đá hoa văn chữ chửa mờ.
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới,
Sông Tô lai láng bóng trăng xưa.
Gặp ai cố lão ra đây hỏi,
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa.
- Bản Xuân Hương thi vịnh
Thăng Long hoài cổ

Chân ngất tầng mây một ngọn cờ,
Kinh thành ngày trước cảnh bây giờ.
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát,
Bia đá hoa văn chữ chửa mờ.
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới,
Ghềnh Tô lai láng bóng trăng xưa.
Gặp ai cố lão ra đây hỏi,
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa.


Chú thích:
[1]
Chỉ ngọn cờ trên cột cờ Hà Nội được xây dựng vào năm Gia Long thứ 11 (1812).
[2]
Chỉ Hà Nội lúc đã đổi là tỉnh thành. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) bắt đầu bỏ các trấn, chia cả nước làm 20 tỉnh, trong đó Trấn thành Thăng Long đổi thành Tỉnh thành Hà Nội. Song câu thơ không chỉ nói về sự đổi thay tên gọi, mà còn bao hàm nỗi ai hoài chua xót của người Hà Nội bấy giờ. Sau khi Gia Long lên ngôi, kinh đô đặt tại Huế; do Thăng Long không còn là kinh đô nữa nên chữ “long” 龍 là rồng bị đổi thành chữ “long” 隆 là thịnh vượng; cũng do Thăng Long không còn là Hoàng thành nên năm Gia Long thứ 4 (1805) đã phá thành cũ để xây thành mới hẹp hơn; đến năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) vì cho rằng thành Hà Nội vẫn còn quá cao, nên lại hạ xuống thêm 1 thước 8 tấc, nghĩa là tường thành chỉ còn cao hơn 3 mét.
[3]
Đền Trấn Vũ ( 21.043,105.837): Đền Quán Thánh tên chữ là Trấn Vũ quán 鎮武觀, là đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, là một trong bốn vị thần được lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa (Thăng Long tứ trấn), nằm ở cạnh Hồ Tây, được khởi dựng năm 1012 đời Lý Thái Tổ (1010-1028). Quán là nơi hành đạo trong Đạo giáo, tương tự như chùa trong Phật giáo. Nơi đây cũng từng là một trong bốn Đạo quán lớn của Đạo giáo ở Thăng Long. Năm 1840, vua Minh Mạng khi ra tuần thú Bắc Thành cho đổi tên đền thành Chân Vũ quán 真武觀, nhưng bức hoành trong bái đường vẫn ghi là Trấn Vũ quán 鎮武觀. Hiện nay đền nằm ở góc giao giữa đường Thanh Niên và phố Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Trong đền có quả chuông đúc năm 1677 cùng một lúc với tượng đồng Trấn Vũ. Mặc dù đây là một đạo quán và cũng là đền thờ, nhưng một số người còn quen gọi là chùa (tự) hay miếu. Nhiều người còn gọi nhầm là đền Quan Thánh, chữ thường được người Trung Quốc dùng để chỉ đền thờ tướng Quan Vũ (tức Quan Vân Trường) nhà Thục Hán.

Nghi môn đền Quán Thánh đầu thế kỷ 20
Hình: Nghi môn đền Quán Thánh đầu thế kỷ 20

Đền Quán Thánh ngày nay
Hình: Đền Quán Thánh ngày nay

[4]
Tức Khuê Văn Các ở khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Bia đá chỉ các tấm bia tiến sĩ do vua Lê Thánh Tông cho dựng vào năm 1484, bắt đầu ghi tên các tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đời Lê Thái Tông. Các văn bản ghi “bia đá hoa văn” là những bản sao sai văn bản, vừa mơ hồ về nghĩa, vừa không đối với câu trên.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]