Đăng bởi Nguyễn Đông Ngạn vào 19/06/2010 22:27, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi hongha83 vào 14/06/2014 09:03

離北京

冀北天心懸皓月,
心隨皓月共悠悠。
皓月誰分為兩半,
半隨舊友半征夫。

 

Ly Bắc Kinh

Ký Bắc thiên tâm huyền hạo nguyệt,
Tâm tuỳ hạo nguyệt cộng du du.
Hạo nguyệt thuỳ phân vi lưỡng bán,
Bán tuỳ cựu hữu, bán chinh phu.

 

Dịch nghĩa

Giữa lòng trời Ký Bắc treo vầng trăng sáng trắng,
Lòng ta theo trăng sáng cùng man mác.
Vầng trăng sáng kia ai chia làm hai nửa,
Một nửa theo cùng bạn cũ, một nửa soi khách đường trường.


Bài thơ này được Bác Hồ làm ngày 11-3-1950, lúc rời Bắc Kinh. Vào hạ tuần tháng 1 năm 1950, Hồ Chủ tịch từ Việt Nam đi Bắc Kinh để bàn với các nhà lãnh đạo Trung Quốc về việc giúp Việt Nam chống thực dân Pháp. Sau đó, Người đi Mátxcơva và tham dự cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam.

Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 6), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Văn Các

Trời Ký Bắc treo vầng trăng rọi,
Lòng theo trăng vời vợi sáng ngời.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa soi bạn cũ, nửa soi lữ hành.


Nguồn: Hoàng Tranh, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh – Chú thích – Thư pháp,  NXB Chính trị QG HN, 2005.
Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Thế Nữu

Trăng sáng treo cao trời Ký Bắc,
Lòng theo trăng sáng cùng lâng lâng.
Ai chia trăng sáng làm hai nửa,
Nửa theo bạn cũ, nửa khách đường.


Nguồn: Nguyễn Thế Nữu, Thưởng thức và chú dịch Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (ngoài Ngục trung nhật ký), NXB Khoa học xã hội, 2005
Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời