奉使留別親弟

一身北去一南還,
隻影茫然寄馬鞍。
塞遠雲深鴻雁斷,
原頭風急鶺鴒寒。
幾時夜雨連床話,
萬斛鄉愁借酒寬。
我秉節旄君扇枕,
從來忠孝兩全難。

 

Phụng sứ lưu biệt thân đệ

Nhất thân bắc khứ nhất nam hoàn,
Chích ảnh mang nhiên ký mã an.
Tái viễn vân thâm hồng nhạn đoạn,
Nguyên đầu phong cấp tích linh hàn.
Kỷ thời dạ vũ liên sàng thoại,
Vạn hộc hương sầu tá tửu khoan.
Ngã bỉnh tiết mao quân phiến chẩm,
Tòng lai trung hiếu lưỡng toàn nan.

 

Dịch nghĩa

Một người đi về phương bắc, một người về nam,
Chiếc bóng bâng khuâng gửi trên yên ngựa.
Ngoài ải xa mây nhiều, chim hồng nhạn lẻ loi,
Đầu đồng bằng gió mạnh, con tích linh lo lắng.
Bao phen đêm mưa, liền giường cùng nhau trò chuyện,
Muôn hộc tình buồn nhớ quê hương, mượn chén rượu uống cho khuây khoả.
Ta đi cầm cờ tiết mao, người về coi việc gối quạt,
Xưa nay trung, hiếu khó toàn vẹn được cả hai.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Người thì đi bắc kẻ về nam
Yên ngựa một mình phận phải cam
Ngoài ải mây nhiều hồng quạnh quẽ
Trong đồng gió mạnh sáo hoang mang
Tình quê muôn mối khuây nhờ rượu
Mưa gió bao phen chuyện cạnh giường
Mao tiết phần ta, người gối quạt
Xưa nay trung hiếu khó chung đường

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của nhóm Trần Kính Hoà

Về nam đi bắc tách hai phương,
Hai bóng mờ mờ ngựa rẽ cương.
Hồng nhạn tuyệt vời mây cửa ải,
Tích linh lạnh lẽo gió bên tường.
Kề giường trò chuyện đêm mưa gió,
Mượn rượu khuây khoa nỗi nhớ thương.
Ta giữ tiết mao, người quạt gối,
Hiếu trung khôn vẹn cả đôi đường.


Nguồn: Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời