Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Chính Hữu » Đầu súng trăng treo (1972)
Tôi muốn làm thơ
ghép bằng khẩu hiệu
của Đảng ta
như anh hùng ca
rung động chúng ta
từng hồi trống trận
Lãng mạn như lời tiên tri
Khẩu hiệu "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi"
đưa ta đi
vượt nghìn con sông, vượt nghìn quả núi
Ta nhớ từng ngày sôi nổi
Quê hương ta vườn trống nhà không
Khẩu hiệu trong lòng
đinh ninh
mải miết
Những đêm lửa đỏ xóm làng
thức với những người du kích
khẩu hiệu đứng
trên đường
bất khuất
Chúng ta đói, chúng ta rét
ta đánh giặc
bằng hai tay không
cầm khẩu hiệu
làm vũ khí
tiến công
Khi ta ngã xuống
Khẩu hiệu đã dựng
Chúng ta đứng lên
Khẩu hiệu của Đảng
đúc thép, phá hoang
bắc cầu, xây thêm hải cảng...
Trên mảnh đất này, khó nhọc, gian nan
đời sau còn nghe kể lại:
Lau sậy hoang vu, mưa dầm nắng dội
ngày ấy,
khẩu hiệu lên đây
đuổi cọp, san rừng, xẻ núi
Khẩu hiệu
đỏ
từng câu
nhức nhói
như lương tâm kêu gọi
Ta viết trên đường đất nước ta đi
những chữ đơn sơ, những chữ thần kỳ
Ta viết lên làng, lên phố
cuối chợ, đầu sông,
lên tờ sách mở
lên những đảo xa khuất mù sóng vỗ
những bản Mèo lạc giữa núi mây
Ta viết lên đá, tên viết lên cây
Lên từng trang cuốn lịch ngày ngày
Trang trong tổng số 1 trang (1 bài trả lời)
[1]
Gửi bởi D Sabo ngày Hôm nay 08:36
“Có những dòng chữ sinh ra để nằm yên trên trang giấy, nhưng cũng có những dòng chữ như nhát tạc vào đá núi, cứ âm vang mãi trong tâm khảm người đọc bởi sức công phá của lý tưởng và khát vọng. Giữa những năm tháng ‘quê hương ta vườn trống nhà không’, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc, Chính Hữu – một hồn thơ chiến sĩ đầy nhiệt huyết và tài hoa – đã biến những con chữ khô khan thành một sinh mệnh bất diệt trong bài thơ ‘Khẩu hiệu’. Bài thơ không chỉ là sự xúc động trước nỗi gian lao, mà còn là sự ngỡ ngàng trước cách tác giả hình tượng hoá những dòng chữ khô khan thành một thực thể sống động, có linh hồn và sức mạnh xoay chuyển lịch sử. Mạch cảm xúc của tác phẩm được khơi nguồn từ những hoài niệm sôi nổi về một thời kháng chiến gian khổ, để rồi cuộn chảy thành niềm tự hào kiêu hãnh khi chứng kiến những dòng khẩu hiệu ấy đồng hành cùng dân tộc ‘san rừng, xẻ núi’, kiến thiết nước nhà. Đó là hành trình đi từ bóng tối của lau sậy hoang vu đến ánh sáng chói lọi của những hải cảng, phố phường, nơi lý tưởng của Đảng đã thấm sâu vào từng trang sách, từng nhịp thở của nhân dân.” Đi sâu vào thế giới hình tượng của bài thơ, ta thấy “khẩu hiệu” hiện thân như một sinh mệnh có linh hồn. Trong cảnh “vườn trống nhà không”, giữa cái “đói”, cái “rét”, khẩu hiệu không chỉ là chữ viết mà là “vũ khí tiến công” sắc bén. Những dòng chữ ấy biết “thức” cùng người du kích, biết “đứng” hiên ngang trên đường để khẳng định sự bất khuất. Đặc biệt, hình ảnh đối lập đầy xúc động: “Khi ta ngã xuống / Khẩu hiệu đã dựng / Chúng ta đứng lên” đã nâng tầm lý tưởng lên thành sự bất tử; con người có thể nằm xuống nhưng niềm tin chính là sức mạnh để dân tộc đứng dậy. Không dừng lại ở đó, khẩu hiệu còn đồng hành cùng công cuộc kiến thiết, có sức mạnh “đúc thép”, “phá hoang”, “san rừng, xẻ núi”, biến những vùng lau sậy hoang vu thành hải cảng, thành phố phường rộn rã. Thành công của đoạn thơ trước hết nằm ở nghệ thuật sử dụng thể thơ tự do với cách ngắt dòng bậc thang độc đáo như “đinh ninh / mải miết” hay “nhức nhối / như lương tâm kêu gọi”. Cách ngắt nhịp này tạo ra những khoảng lặng để suy ngẫm, đồng thời tạo nên tiết tấu dồn dập như bước chân hành quân. Các biện pháp tu từ như điệp từ “Ta viết”, “Khẩu hiệu” cùng hàng loạt động từ mạnh (đúc, phá, đuổi, san, xẻ) đã tạo nên một không khí lao động và chiến đấu khẩn trương, đầy sức mạnh. Đặc biệt, phép so sánh khẩu hiệu “đỏ từng câu nhức nhối” như “lương tâm kêu gọi” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, biến tư tưởng chính trị thành mệnh lệnh thiêng liêng từ trái tim. Việc lựa chọn thể thơ tự do là một dụng ý nghệ thuật tài tình của Nguyễn Mỹ. Nó không chỉ giúp tác giả thoát khỏi sự gò bó của niêm luật để diễn tả trọn vẹn những cảm xúc mãnh liệt, đa chiều mà còn tạo nên một hình thái ngôn ngữ gân guốc, khoẻ khoắn. Thể thơ này giúp hình tượng “khẩu hiệu” trở nên nổi bật về mặt thị giác, giống như những nét vẽ tạc vào vách đá lịch sử, thể hiện cái tôi cá nhân hoà quyện tuyệt vời trong cái ta chung của dân tộc. Gập trang thơ lại, ta vẫn ngỡ như nghe thấy tiếng “xẻ núi san rừng” âm vang trong từng con chữ; bởi Nguyễn Mỹ đã không chỉ viết thơ bằng mực, mà ông đã dùng chính nhiệt huyết của một trái tim yêu nước để biến “Khẩu hiệu” thành một di sản tinh thần cháy bỏng, nhắc nhở đời sau về một thời đại mà niềm tin có thể dời non lấp bể.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.