Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
6 bài trả lời: 6 bản dịch
Từ khoá: chiến tranh (219) biên tái (156)

Đăng bởi Vanachi vào 16/02/2006 17:34, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 16/02/2006 17:38

燕歌行

漢家煙塵在東北,
漢將辭家破殘賊。
男兒本自重橫行,
天子非常賜顏色。
摐金伐鼓下榆關,
旌旗逶迤碣石間,
校尉羽書飛瀚海,
單于獵火照狼山。
山川蕭條極邊土,
胡騎憑陵雜風雨,
戰士軍前半死生,
美人帳下猶歌舞。
大漠窮秋塞草衰,
孤城落日鬥兵稀,
身當恩遇常輕敵,
力盡關山未解圍。
鐵衣遠戍辛勤久,
玉箸應啼別離後,
少婦城南欲斷腸,
征人薊北空回首。
邊庭飄颻那可度,
絕域蒼黃更何有?
殺氣三時作陣雲,
寒聲一夜傳刁鬥。
相看白刃血紛紛,
死節從來豈顧勳,
君不見沙場征戰苦,
至今猶憶李將軍。

 

Yên ca hành

Hán gia yên trần tại đông bắc,
Hán tướng từ gia phá tàn tặc.
Nam nhi bản tự trọng hoành hành,
Thiên tử phi thường tứ nhan sắc.
Song kim phạt cổ hạ Du Quan,
Tinh kỳ uy di Kiệt Thạch gian.
Hiệu uý vũ thư phi hãn hải,
Thiền Vu lạp hoả chiếu Lang San.
Sơn xuyên tiêu điều cực biên thổ,
Hồ kỵ bằng lăng tạp phong vũ.
Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh,
Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ.
Đại mạc cùng thu tái thảo suy,
Cô thành lạc nhật đấu binh hy.
Thân đương ân ngộ thường khinh địch,
Lực tận quan sơn vị giải vi.
Thiết y viễn thú tân cần cửu,
Ngọc trợ ưng đề biệt ly hậu.
Thiếu phụ thành nam dục đoạn trường,
Chinh nhân Kế Bắc không hồi thủ.
Biên đình phiêu dao na khả độ,
Tuyệt vực thương mang cánh hà hữu.
Sát khí tam thời tác trận vân,
Hàn thanh nhất dạ truyền điêu đẩu.
Tương khan bạch nhận tuyết phân phân,
Tử tiết tòng lai khởi cố huân!
Quân bất kiến sa trường chinh chiến khổ,
Chí kim do ức Lý tướng quân.

 

Dịch nghĩa

Miền ông bắc nhà Hán nổi cơn khói bụi,
Tướng Hán từ giã nhà, đi dẹp quân giặc tàn bạo
Tài trai xông pha chiến trường vẫn đáng trọng,
Thiên tử cũng kính nể khác thường!
Khua chiêng, dóng trống kéo xuống Du Quan
Hàng cờ xí uốn lượn quanh vùng Kiệt Thạch
Hiệu uý mang lệnh quân, có cài lông gà chạy như bay trên bể cát
Lửa săn của chúa Thiền Vu sáng rọi vào núi Lang San.
Cảnh núi sông xơ xác đến tận ngoài biên giới,
Đoàn kỵ binh Hồ xông xáo như mưa gió!
Ngoài mặt trận chiến sĩ sống thác như chơi,
Dưới trướng, gái đẹp vẫn còn múa hát.
Bể cát mênh mông, cảnh thu già, cỏ trên ải xác xơ
Toà thành trơ vơ, dưới bóng tà, quân chiến đấu thưa thớt
Thân được ân trên trọng đãi, thường hay khinh địch
Sức kiệt rồi, nơi quan ả vẫn chưa giải được vây.
Kẻ mặc áo sắt đi thúc nơi xa, gian khổ đã bao ngày
Những hàng lệ ngọc đã rõ nhiều sau khi ly biệt
Thiếu phụ ở phía nam thành, ruột muốn đứt
Chinh phu miền Kế Bắc ngoái cổ trong hoài!
Chốn biên đình xa xôi hiu hắt dễ đâu đến được
Nơi tuyệt vực mênh mông nào còn có gì ?
sát khí suốt ba mùa bốc thành mây trận
Tiếng điêu đẩu lạnh lùng, thâu đêm vẳng tới.
Nhìn nhau lưỡi gươm sáng loáng, tuyết bay tơi bời
Xưa nay những người tử tiết há nghĩ đến công lênh
Anh chảng thấy bao nhiêu chiến sĩ gian khổ trên sa trường
Đến nay còn nhớ tướng quân họ Lý.


Yên ca hành: Một khúc hát xưa.

(Năm 734)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Bích Ngô

Nhà Hán, giặc tràn vào đông bắc,
Tướng Hán giã nhà đi giết giặc.
Nam nhi vốn trọng chí tung hoành,
Thiên tử vui mừng rạng nhan sắc.
Quân xuống cửa Du chiêng trống vang,
Kéo qua núi Kiệt cờ rợp đường,
Lệnh quân khẩn cấp qua biển cát,
Khói lửa Thiền Vu rực núi Lang.
Non sông xơ xác khắp biên thổ,
Quân Hồ phi ngựa như mưa gió.
Chiến sĩ ra trận nửa tử sinh,
Mỹ nhân dưới trướng còn hát múa.
Sa mạc cuối thu rụi cỏ cây,
Biên thành chiều tối quân ít thay!
Thân chịu ơn trên, khinh lũ giặc,
Kiệt sức, quan san chưa giải vây.
Áo sắt trấn xa gian khổ miết,
Lệ ngọc tuôn rơi sầu ly biệt.
Thiếu phụ thành nam nhớ dàu dàu,
Chinh phu Kế Bắc buồn da diết.
Dễ đâu tới được chốn biên đình,
Cõi vắng hoang lương không kể xiết.
Ba mùa sát khí tựa mây đùn,
Suốt đêm lạnh lùng mõ canh thét.
Cùng nhìn lưỡi kiếm tuyết bay tung,
Xưa nay tử tiết há hòng công.
Ngươi chẳng thấy sa trường chinh chiến khổ,
Đến nay còn nhớ Lý anh hùng.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn phước Hậu

Đời nhà Hán loạn tràn đông bắc
Tướng giã nhà dẹp giặc lên đường
Đức vua đẹp dạ khác thường
Trai tài hăng hái chiến trường ruỗi dong
Nổi chiêng trống Du Quan thẳng tiến
Hàng cờ bay vùng Kiệt ra uy
Cát tung hiệu úy đưa thư
Lang Sơn sáng rực, Thiền Vu lửa hồng
Ôi xơ xác non sông cảnh giới
Đoàn kỵ Hồ cỡi gió xông lên
Tử sinh chiến sĩ trận tiền
Mỹ nhân dưới trướng còn triền miên ca
Bãi cát rộng thu già cỏ úa
Vây thành xưa bóng xế quân thưa
Khinh thường vì hưởng ân vua
Lực cùng giải ải mà chưa thoát vòng.
Kẻ áo sắt xung phong gian khổ
Sau chia tay, lệ đỗ chứa chan
Đoạn trường thiếu phụ thành nam
Chinh phu Kế Bắc dặm ngàn hoài hương
Đâu thể đến biên cương lửa rực
Có còn gì tuyệt vực mù khơi
Ba mùa sát khí mây trời
Tiếng điêu đẩu lạnh chơi vơi đêm dài
Cùng nhìn gươm tuyết bay ủ rủ
Quản công người tử thủ còn đây
Nhớ ơn tướng Lý đến nay
Thấy chăng chiến sĩ xả thây sa trường ?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Lãm Thắng

Đông Bắc Hán nổi cơn lửa loạn
Tướng xa nhà dẹp nạn đao binh
Nam nhi trọng chí tung hoành
Cho thiên tử cũng nể danh phi thường
Khua chiêng trống, Du Quan xuống dẹp
Cờ lượn quanh núi Kiệt trập trùng
Lệnh quân giữa trận bão bùng
Lửa Thiền Vu, sáng một vùng núi Lang
Cảnh xơ xác ngập tràn biên trấn
Kỵ binh Hồ lướt trận gió mưa
Trận tiền sống chết như đùa
Mỹ nhân dưới trướng muốt mùa múa ca
Chốn sa mạc thu nhoà chân cỏ
Thành trơ vơ, bóng thỏ buồn lây
Chịu ơn, khinh lũ giặc choai
Sức tàn, chưa giải vòng vây quan hà
Khoác áo sắt, đường xa bao khổ
Sau biệt ly, lệ rỏ tuôn dòng
Thành Nam thiếu phụ mong chồng
Chinh phu đất Kế mỏi trông tin nhà
Chốn biên đình càng xa hiu hắt
Cõi mênh mông, se sắt buồn thay!
Ba mùa tử khí thành mây
Lạnh lùng tiếng mỏ đêm dài cầm canh
Nhìn lưỡi kiếm bên thành phủ tuyết
Xưa nay ai, tử tiết ghi công?
Sa trường gian khổ, thấy không?
Đến nay còn nhớ anh hùng Lý xưa.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Trọng San

Khói bụi nhà Hán mờ đông bắc
Tướng Hán rời nhà đi dẹp giặc
Nam nhi vốn trọng chí tung hoành
Cửu trùng đặc biệt ban nhan sắc
Chiêng khua trống gióng xuống Du Quan
Kiệt Thạch tinh kỳ phấp phới sang
Vũ thư hiệu uý bay hãn hải
Lửa săn chúa mọi chiếu Lang San
Núi sông xơ xác miền biên tái
Ngựa rợ hung hăng trong gió mưa
Trước quân lính chiến đầy nguy hiểm
Dưới trướng cô nàng vẫn múa ca
Sa mạc tàn thu cỏ úa gầy
Thành cô quân ít nắng chiều gay
Mình mang ơn chúa coi thường giặc
Sức hết quan san chưa giải vây
Gian khổ biên thuỳ mảnh áo nhung
Chia ly đũa ngọc chắc tuôn ròng
Bên thành thiếu phụ lòng như xé
Kế Bắc chinh phu vẫn ngoảnh trông
Xa thẳm biên đình đến được sao
Bao la tuyệt vực có chi nào
Ba mùa sát khí xông mây trận
Lạnh lẽo đêm đêm tiếng mõ sầu
Lấp loá gươm đao tuyết trắng ngần
Xá gì công trạng tiếc chi thân
Thấy chăng chiến địa đầy gian khổ
Còn nhớ xưa kia Lý tướng quân

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Hán triều đông bắc chiến chinh,
Lìa nhà, tướng Hán dứt tình ra đi.
Tung hoành ấy chí nam nhi,
Mặt rồng hoan hỉ, ít khi ơn này.
Khắp trời Kiệt Thạch cờ bay,
Chiêng kêu, trống giục, ra ngay ải đầu.
Lệnh quân, sa mạc, truyền mau,
Thiền Vu, lửa chiếu tuyến đầu Lạng Sơn.
Non sông buồn bã, căm hờn,
Ngựa Hồ giày xéo mưa tuôn gió gào.
Trận tiền, chết nửa, thương sao!
Mỹ nhân dưới trướng buồn nào!... múa, ca!...
Biên thuỳ tàn tạ cỏ hoa,
Chiến binh, thấy vắng chiều tà thành cô.
Ơn vua, coi nhẹ giặc Hồ,
Thâu hồi biên ải, cơ đồ chưa xong.
Giáp binh, cay đắng nén lòng,
Biệt ly, lệ ngọc rơi trong đêm trường.
Thành nam thiếu phụ sầu thương,
Chiến binh Kế Bắc cổ thường ngoảnh lui.
Chốn biên đến chẳng nổi rồi,
Mênh mang, còn có gì nơi đất cùng.
Mịt mờ sát khí mây lồng,
Lạnh lùng hiệu lệnh truyền trong đêm trường.
Nhìn nhau, gươm sáng tuyết vươngg,
Nào ai tử tiết, huân chương mong chờ.
Chiến trường đau khổ, thấy chưa!
Tướng quân họ Lý, vẫn chưa quên nào!...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đông bắc Hán ngập tràn lửa trận
Tướng lìa nhà rửa hận xâm lăng
Thân trai chiến địa xung phong
Đức vua nhìn xuống mặt rồng hân hoan
Chiêng trống nổi Du quan thẳng tiến
Cờ xí bay non Kiệt lượn quanh
Quân thư Hãn Hải chuyển nhanh
Thiền Vu lửa trại non Lang sáng ngời
Cảnh xác xơ ở nơi biên giới
Kỵ binh Hồ lui tới như bay
Chiến binh lâm trận bỏ thây
Mỹ nhân dưới trướng vẫn say hát hò
Sa mạc thu cỏ khô héo úa
Nơi cô thành lính có vài tên
Quên mình đền đáp ơn trên
Lực tàn quan ải vẫn còn bị vây
Kẻ giáp sắt lâu ngày gian khổ
Giọt lệ buồn từ độ quân tòng
Thành nam thiếu phụ đau lòng
Chinh phu Kế Bắc ngoái trông nhớ nhà
Chốn biên đình cõi xa đến khó
Vực thẳm sâu nào có gì đâu
Ba mùa sát khí dãi dầu
Lạnh lùng tiếng mõ canh thâu điểm đều
Gươm tuốt trần cùng nhìn gió tuyết
Xưa tới nay tử tiết được gì?
Thấy chăng chiến sĩ gian nguy
Gương xưa tướng Lý còn ghi nhớ hoài.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời