Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Trung Đường
6 bài trả lời: 6 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 18/03/2007 07:13

村居苦寒

八年十二月,
五日雪紛紛。
竹柏皆凍死,
況彼無衣民!
回觀村閭間,
十室八九貧。
北風利如劍,
布絮不蔽身。
唯燒蒿棘火,
愁坐夜待晨。
乃知大寒歲,
農者尤苦辛。
顧我當此日,
草堂深掩門。
褐裘覆絁被,
坐臥有餘溫。
倖免饑凍苦,
又無壟畝勤。
念彼深可愧,
自問是何人?

 

Thôn cư khổ hàn

Bát niên thập nhị nguyệt,
Ngũ nhật tuyết phân phân.
Trúc bách giai đống tử,
Huống bỉ vô y dân.
Hồi quan thôn lư gian,
Thập thất bát cửu bần.
Bắc phong lợi như kiếm,
Bố nhứ bất tệ thân.
Duy thiêu cao cức hoả,
Sầu toạ dạ đãi thần.
Nãi tri đại hàn tuế,
Nông giả đa khổ tân.
Cố ngã đương thử nhật,
Thảo đường thâm yểm môn.
Cát cừu phú thi bị,
Toạ ngoạ hữu dư ôn.
Hạnh miễn cơ đống khổ,
Hựu vô lũng mẫu cần.
Niệm bỉ thâm khả quý,
Tự vấn thị hà nhân?

 

Dịch nghĩa

Tháng chạp năm thứ tám
Suốt năm ngày tuyết rơi rơi
Tre tùng đều chết lạnh
Huống hồ dân không áo
Quay nhìn các nóc nhà trong xóm
Cứ mười căn thì tám, chín nhà nghèo
Gió bắc lạnh như gươm sắc
Vải bố không đủ che tấm thân
Chỉ biết đốt cỏ, gai để sưởi tạm
Ngồi buồn suốt đêm thâu đợi sáng
Mới biết năm nào rét buốt
Người nông dân chịu nhiều đắng cay gian khổ
Nhìn lại bản thân ta những ngày đó
Ở trong nhà cỏ cửa đóng kín
Áo kép lại thêm mền bông
Ngồi hay nằm đều dư thưa hơi ấm
May mắn khỏi cảnh khổ đói rét
Không làm việcruộng đồng vất vả
Nghĩ điều ấy mà thấy mình hổ thẹn
Tự hỏi ta là hạng người gì?


 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hải Đà

Mùa đông tháng chạp năm nào
Suốt năm ngày lạnh tuyết ào ào rơi
Tre thông chết cóng rã rời
Huống không manh áo bao người lầm than
Nhìn xem khu xóm quanh làng
Mười nhà... tám, chín nghèo nàn thảm thê
Như dao cắt, gió bấc về
Vải bô đâu đủ ấm che thân người
Rơm, gai đốt tạm tìm hơi
Suốt đêm chờ sáng đứng ngồi buồn vương
Nghĩ năm buốt lạnh mà thương
Nông dân chịu đựng trăm đường đắng cay
Nhìn lại ta với những ngày
Ở trong nhà kín thật may hơn người
Chăn bông áo kép đều nơi
Dư thừa hơi ấm nằm, ngồi thảnh thơi
May không đói rét tả tơi
Lại không vất vả ngoài nơi ruộng đồng
Ngẫm suy mà thấy thẹn lòng
Hạng người chẳng xứng... hỏi rằng phải ta?

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Tháng chạp năm thứ tám,
Năm ngày đẫy tuyết rơi.
Trúc, bách đều chết rét,
Không áo còn bao người.
Ngắm các nhà trong xóm,
Nghèo khó, chín phần mười.
Gió lém như gươm sắc,
Thân không mảnh áo tồi.
Cỏ, củi rong đốt sưởi,
Thâu đêm rầu rĩ ngồi.
Mới hay trời rét dữ,
Chỉ khổ nhà nông thôi.
Ngẫm lại mình, cữ ấy,
Nhà cỏ kín, then cài.
Áo mềm còn chăn kép,
Lạnh giá chẳng tới nơi.
Đã không phải đói rét,
Chẳng vất vả cấy cày.
Với họ, mình đáng thẹn,
Tự hỏi: ta là ai?


Nguồn: Thơ Bạch Cư Dị, Ngô Văn Phú, NXB Hội nhà văn, 2006
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Năm Thiên Bảo thứ tám thời:
Năm ngày tháng chạp tuyết rơi mịt mờ.
Bách, thông, chết cóng nào ngờ,
Huống dân không áo bây giờ ra sao?
Quay nhìn trong xóm thế nào?
Mười nhà, chín tám nghèo sao là nghèo!
Như gươm, gió bắc vèo vèo,
Vải thô không đủ kiếp nghèo che thân.
Đốt gai đốt cỏ sưởi dần,
Buồn rầu bó gối đã gần qua đêm.
Những năm rét gắt, biết thêm,
Nông dân chịu biết bao niềm đắng cay.
Ngẫm ta trong những ngày này,
Ở trong nhà cỏ đóng ngay cửa vào.
Chăn bông, áo kép, ấm sao!
Ngồi, nằm, hơi ấm lúc nào cũng dư.
Khổ vì đói rét, đã từ,
Việc đồng vất vả, không như mọi người.
Nghĩ điều ấy, hổ thẹn ơi!
Tự mình lại hỏi là người gì đây?!...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn phước Hậu

Tháng chạp Nguyên Hoà thứ tám
Năm ngày tuyết đổ không ngưng
Lạnh băng chết đứng tre tùng
Huông chi dân không áo ấm.
Hãy về thôn xóm xem nào
Mười nhà nghèo hèn tám chín.
Gió bấc sắc bén gươm dao
Áo gai che thân chẳng kín.
Chỉ biết đốt cỏ hao gai
Ngồi buồn suốt đêm chờ sáng
Mới hay mùa đông giá lạnh
Nhà nông chịu nhiều đắng cay.
Trông lại ta ngày cuối chạp
Nhà cỏ cửa đóng then cài
Mền sợi lớn, áo lông dày
Ngồi nằm cũng thừa ấm áp.
May mắn cơ hàn được miễn
Lại không ruộng rẫy cấy cày.
Nghĩ rõ điều này hổ thẹn
Lòng tự hỏi "người gì đây?"

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Tháng chạp năm thứ tám
Năm ngày tuyết bời bời
Trúc thông đều chết rét
Dân không áo kêu trời
Ngoảnh lại nhìn trong thôn
Mười nhà chín nhà khó
Gió bấc sắc như gươm
Vải bông che chẳng có
Rầu rĩ suốt đêm ngày
Rong gai làm củi đốt
Mới biết rét năm nay
Dân cày thêm chua xót
Nghĩ mình trong buổi ấy
Nhà cỏ đóng kín bưng
Áo dày chăn kép phủ
Nằm, ngồi ấm ung dung
May không lo đói rét
Chẳng công việc ngoài đồng
Nghĩ người, lòng những thẹn
Thá gì, cái thứ ông!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Tháng mười hai Nguyên hoà thứ tám
Tuyết đổ dài u ám năm ngày
Bách tre đều chết cóng thay!
Huống người không có áo dầy hộ thân
Về mà xem người thôn kẻ xóm
Mười nhà thì chín tám là nghèo
Những làn gió bấc như dao
Đơn sơ áo vải không sao đủ xài
Chỉ biết đốt cỏ gai sưởi ấm
Ngồi cả đêm chờ nắng lên hồng
Những năm quá lạnh mùa đông
Càng thêm cay đắng nhà nông lạnh lùng
Trông lại ta vào cùng ngày đó
Cửa đóng rồi nhà cỏ kín bưng
Áo dầy mền đắp áo lông
Ngồi hay nằm cũng thấy không lạnh gì
May mắn không khổ vì đói lạnh
Lại chẳng màng làm lụng ngoài đồng
Thấy điều đó luống thẹn thùng
Trong lòng tự hỏi: thế ông người gì?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời