Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Cổ phong (cổ thể)
Thời kỳ: Trung Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 03/10/2008 23:44

秦吉了

秦吉了,出南中,
彩毛青黑花頸紅。
耳聰心慧舌端巧,
鳥語人言無不通。
昨日長爪鳶,
今日大嘴烏,
鳶捎乳燕一窠覆,
烏啄母雞雙眼枯。
雞號墮地燕驚去,
然後拾卵攫其雛。
豈無雕與鶚,
嗉中食飽不肯搏,
亦有鸞鶴群,
閒立高颺如不聞。
秦吉了,
人言爾是能言鳥,
豈不見雞燕之冤苦?
吾聞鳳凰百鳥主,
爾竟不為鳳凰之前致一言,
安用噪噪閒言語。

 

Tần Cát Liễu

Tần Cát Liễu, xuất Nam Trung,
Thái mao thanh hắc hoa cảnh hồng.
Nhĩ thông tâm tuệ thiệt đoan xảo,
Điểu ngữ nhân ngôn vô bất thông.
Tạc nhật trường trảo diên,
Kim nhật đại chuỷ ô,
Diên sao nhũ yến nhất khoà phúc,
Ô trác mẫu kê song nhãn khô.
Kê hiệu đoạ địa yến kinh khứ,
Nhiên hậu thập noãn quặc kỳ sồ.
Khởi vô điêu dữ ngạc,
Tố trung thực bão bất khẳng bác,
Diệc hữu loan hạc quần,
Nhàn lập cao dương như bất văn.
Tần Cát Liễu,
Nhân ngôn nhĩ thị năng ngôn điểu,
Khởi bất kiến kê yến chi oan khổ?
Ngô văn phượng hoàng bách điểu chúa,
Nhĩ cánh bất vi phượng hoàng chi tiền trí nhất ngôn,
An dụng táo táo nhàn ngôn ngữ.

 

Dịch nghĩa

Tần Cát Liễu, ra từ đất Nam Trung,
Lông rực rỡ xanh đen, cổ hoa đỏ.
Tai thính lòng sáng lưỡi khéo dẻo,
Tiếng người tiếng chim, không tiếng nào không biết.
Hôm qua là diều vuốt dài,
Bữa nay là quạ bỏ lớn.
Diều lấy sữa yến làm nghiêng tổ hang,
Quạ mổ gà mẹ, khiến hai mắt khô.
Gà kêu rơi xuống đất, chim yến sợ bay đi.
Sau đó thu trứng bắt chim non,
Há không có chim diều cùng chim ó?
Hay là trong diều ăn no không đánh lộn được,
Cũng có đàn chim loan, chim hạc,
Đậu yên, bay cao làm như không nghe thấy.
Tần Cát Liễu,
Người ta nói đúng ngươi biết tiếng chim.
Sao chẳng thấy gà, chim yến bị oan khổ.
Ta nghe chim phượng hoàng là chúa các loại chim,
Sao ngươi không được thấy một lời của chim phượng,
Sao mà nhiều thứ tiếng chim kêu chẳng giúp ích gì.


Tần Cát Liễu chưa rõ chỉ nhân vật nào.

Nguồn: Thơ Bạch Cư Dị, Ngô Văn Phú, NXB Hội nhà văn, 2006

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Tần Cát Liễu, từ Nam Trung,
Lông ánh xanh đen, hoa cổ hồng.
Tai thính, lông sáng, lưỡi uốn khéo,
Tiếng chim, tiếng người, mi đều thông.
Bữa qua là diều dữ,
Bữa nay là quạ hung.
Diều lấy sữa yến phá hang tổ,
Quạ mổ gà mẹ, mắt khô cong.
Gà kêu lăn xuống, yến bay mất,
Mày thu lấy trứng, bắt chim non.
Chim diều, chim ó há chẳng có,
Diều ăn no căng chẳng đánh hộ,
Hay là loan, hạc ưa đậu yên,
Bay tít tầng cao nên chẳng rõ.
Tần Cát Liễu,
Người bảo rằng mi biết tiếng chim,
Sao không thấy gà, yến chịu oan.
Ta nghe phượng hoàng, chúa bách điểu,
Mà không nghe nổi một điều hơn,
Chỉ thấy những tiếng kêu hão rỗng...

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Từ đất Nam Trung ,Tần Cát Liễu
Lông rỡ xanh đen, cổ đỏ hoa
Tai thính,lòng sáng ,miệng lưỡi khéo
Tiếng người tiếng chim đều thạo qua
Hôm trước diều vuốt dài
Hôm nay quạ mỏ lớn
Diều cướp tổ yến nghiêng tổ hang
Quạ mổ gà mẹ mắt hốt hoảng
Gà lăn xuống đất,yến sợ bay
Liền đó thu trứng ,bắt con ngay
Há đâu chẳng có loài chim ó
Chắc bởi ăn no nên đánh khó
Phải chăng đàn chim hạc, chim loan
Đậu yên, bay cao nên chẳng rõ ?
Tần Cát Liễu
Người nói là mi biết tiếng chim
Mà sao chẳng thấy gà yến khổ?
Ta nghe phượng hoàng chúa bách tể
Sao ngươi không nói tiếng phượng hoàng
Sáo rỗng ,ba hoa nghe rởm thế

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời