13.00
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
Thời kỳ: Trung Đường
3 bài trả lời: 3 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 26/12/2007 14:27

魏王堤

花寒懶發鳥慵啼,
信馬閑行到日西。
何處未春先有思,
柳條無力魏王堤。

 

Nguỵ vương đê

Hoa hàn lãn phát điểu dung đề,
Tín mã nhàn hành đáo nhật tê (tây).
Hà xứ vị xuân tiên hữu tứ,
Liễu điều vô lực Nguỵ vương đê.

 

Dịch nghĩa

Hoa lạnh lười nở, chim lười hót,
Ngựa đưa tin nhàn dạo đến tận lúc mặt trời lặn về tây.
Có nơi nào đã xuân đâu mà lòng đã nhớ,
Cành liễu mềm như không có lực trên đê Nguỵ vương.


Mùa xuân năm Nguyên Hoà thứ 4 (809), Bạch Cư Dị đang làm tân khách của thái tử tại Lạc Dương, dạo trên đê Nguỵ vương tìm xuân.

Đê Nguỵ vương: chỉ đê trên sông Lạc đoạn chảy qua thành Lạc Dương, vì phong cho Nguỵ vương Thái (con của Đường Thái Tông) nên có tên gọi như vậy. Đời xưa đây là một nơi thắng cảnh.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Lạnh hoa biếng nở chim lười hót,
Ngựa dạo nhởn nhơ tận bóng tê (tây).
Khắp nẻo chưa xuân mà đã nhớ,
Liễu dương vô lực Nguỵ vương đê.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Hoa lạnh biếng cười chim biếng hót
Trời tây ngựa trạm báo tin về
Man man nỗi nhớ xuân chưa đến
Cành liễu nằm soài ở Nguỵ đê

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Trời lạnh hoa lười chim biếng hót
Ngựa quen đường soải gót tới chiều
Xuân chưa tới, tứ đã nhiều
Nguỵ vương đê liễu yêu kiều lả lơi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời