過彭澤

曉日開新霽,
微吟擁黑裘。
數杯彭澤酒,
一葉杜陵舟。
兩岸煙雲暮,
孤山草木秋。
客中無限思,
江水自東流。

 

Quá Bành Trạch

Hiểu nhật khai tân tễ,
Vi ngâm ủng hắc cừu.
Sổ bôi Bành Trạch tửu,
Nhất diệp Đỗ Lăng chu.
Lưỡng ngạn yên vân mộ,
Cô sơn thảo mộc thu.
Khách trung vô hạn tứ,
Giang thuỷ tự đông lưu.


Đào Tiềm từng làm huyện lệnh ở Bành Trạch.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Văn Chấp

Bóng mai trăm vẻ mới,
Thơ túi chiếc cừu đen.
Say tỉnh Đào chuông rượu,
Đong đưa Đỗ lá thuyền.
Bờ liền mây khói vãn,
Núi trọi cỏ cây chen.
Đất khách đòi cơn nhớ,
Triều đông nước đã quen.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 114, 2-1927
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Đức Toàn (II)

Trời tạnh khoe nắng mới
Ngâm ngợi áo cừu thâm
Mấy chén rượu Bành Trạch
Một con thuyền Đỗ Lăng
Đôi bờ mờ sương khói
Lẻ loi núi một vùng
Lòng khách tràn thi tứ
Sông nước chảy về đông

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Sáng ngày khoe nắng mới lên,
Túi thơ trong chiếc cừu đen ngâm thầm.
Vài chung Bành Trạch rượu hâm,
Đỗ Lăng thuyền lá mái dầm đong đưa.
Bờ liền mây khói vãn thưa,
Lẻ loi núi cỏ cây thừa đua chen.
Tứ thi lòng khách đang lên,
Triều dâng sông nước đã quen đông về.

14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời