懷春十詠其三

花顏怪見幻毛牆,
巧為青年送斷腸。
無故乍逢還乍別,
教人如醉又如狂。
尋芳路阻三春樹,
傷遇胸填百感漿。
夜靜更殘人獨坐,
月移花影過東牆。

 

Hoài xuân thập vịnh kỳ 03

Hoa nhan quái kiến huyễn mao tường,
Xảo vi thanh niên tống đoạn trường.
Vô cố sạ phùng hoàn sạ biệt,
Giáo nhân như tuý hựu như cuồng.
Tầm phương lộ trở tam xuân thụ,
Thương ngộ hung điền bách cảm tương.
Dạ tĩnh canh tàn nhân độc toạ,
Nguyệt di hoa ảnh quá đông tường.

 

Dịch nghĩa

Mặt hoa hiếm thấy mờ ảo trên bức tường thô,
Nét tinh tế khiến thanh niên phải đứt ruột.
Vô cớ vừa gặp lại liền cách biệt,
Lời người như say lại như cuồng.
Khó tìm lối đẹp, ba mùa xuân tạo,
Phủ buồn ngực thắt, trăm nỗi nhớ.
Tàn canh một bóng ngồi lắng lòng lại,
Trăng dời bóng đẹp khỏi tường phía đông.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Văn Giáp

Bóng nga thấp thoáng lênh thênh
Khiến người niên thiếu chạnh niềm thương đau
Gặp nhau bỗng lại xa nhau
Tương tư để nặng mối sầu say mê
Tìm hoa cách trở sơn khê
Tiếc Xuân tay dốc chén thề bâng khuâng
Canh tàn ngồi tựa dưới trăng
Trăng tà soi bóng hoa Đông bên tường

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Mặt hoa diễm tuyệt cười trên vách
Vẻ đẹp xui ai phải não buồn
Thoáng gặp thoắt qua rồi thoáng mất
Như say bỗng lại hoá như cuồng
Tìm hương lối rậm ba mùa khó
Nén tiếc lòng đau nặng nỗi thương
Một bóng lặng ngồi đêm sắp cạn
xê bóng đẹp khuất sau tường.

Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời