Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Tây Sơn
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi Locnguyenthanh12 vào 19/12/2016 23:34, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Locnguyenthanh12 vào 20/12/2016 10:53

Nguyệt Đức giang hoài cổ

Lưỡng ngạn phong cương nhất thuỷ lưu,
Liên vân trĩ điệp, mãn giang thu.
Tinh kỳ ảnh lộng long xà quật,
Huyền quản thanh dư cổ giác lâu.
Dã trĩ phi phi thanh thảo lũng,
Sa âu phiếm phiếm lục tần châu.
Ngư ông bất khởi Tân Đình cảm,
Cao xướng Thương Lương vãn độ đầu.

 

Dịch nghĩa

Đôi bờ là đồi núi, một dòng ở giữa,
Tường luỹ cao liền mây, vẻ thu đầy sông.
Bóng cờ quạt lay động cả hang rồng rắn,
Tiếng đàn sáo còn văng vẳng cùng tiếng trống, tiếng tù và trên lầu.
Gà đồng lượn lờ trên đồng cỏ xanh,
Le le dập dềnh bên bãi tần biếc.
Ông chài chẳng hề cảm thấy nỗi hận Tân Đình,
Vẫn cao giọng hát bài ca Thương Lương trên bến chiều.


Nguồn: Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (Hải Ông thi tập), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đồi núi đôi bờ giữa một dòng,
Liền mây tường luỹ thu đầy sông.
Bóng cờ quạt lay hang rồng rắn,
Đàn, sáo, trống, ốc vẳng gác phòng.
Bay lượn gà đồng trên ruộng cỏ,
Bãi tần bên vịt trời chạy rong.
Ông chài chẳng thấy Tân Đình hận,
Vẫn hát Thương Lương chiều bến đông.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Minh Sơn Lê

Một dòng chảy giữa núi non,
Luỹ tường cao vút, cảnh sông thu đầy.
Hang rồng rắn, cờ động lay,
Sáo, tù và, trống, hoà say trên lầu.
Đồng xanh gà lượn lao xao,
Bãi tần biếc tụ nháo nhào le le.
Tân Đình ngư lão chẳng nghe,
Bến chiều lão hát ca bài Thương Lương.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời