Ức nhũ mẫu, ký dữ đồng niên Thái bộc Tông Đài

Ba ba lão nhũ ý môn quyền
Tự cách vân quan nguyệt kỳ viên
Hà tế khả tiêu sầu dị vực
Tương tâm thâu vấn ngã đồng niên
Cố viên trăn lật Kê Sơn hạ
Du tử thi cầm mã thù tiền
Phân bố bất như phì điếu loại
Bàng giang không thán Tử Dư hiền

 

Dịch nghĩa

Nhũ mẫu già tóc bạc khom lưng ngồi tựa cửa
Từ ngày xa quê đến nay đã mấy độ trăng tròn
Có thuốc gì làm cho ta hết nỗi buồn nơi đất lạ
Đem lòng ta trộm hỏi người bạn đồng niên xem sao
Ở quê hương dưới chân núi Kê Sơn có cây trăn và cây hạt dẻ
Trước đầu ngựa những kẻ nhàn du làm thơ đánh đàn
Mớm mồi nuôi mẹ thì không được như loài chim
Chỉ đứng bên xe mà thán phục suông Tử Dư là người hiền


Nguồn: Mặc Trai sứ tập, NXB Văn học, 2009

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Tú Anh

Thương nhũ mẫu, lưng còng, tựa cửa
Tóc trắng sương, ngồi rứa, mỏi mòn
Xa quê mấy độ trăng tròn
Tìm đâu phương thuốc cho con hết sầu?

Sao sầu hết, là câu ta hỏi
Bạn đồng niên hãy nói cho ta
Quê hương dưới núi Mồng Ga
Cây trăn, cây dẻ đều là thân thương

Trước đầu ngựa vẫn thường có lắm
Kẻ nhàn du say đắm cầm thi
Mớm mồi nuôi mẹ, chim chi?
Bên xe thán phục, người thì... Tử Dư.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Nho Hồng

Vú nuôi tóc bạc tấm lưng còng
Đằng đẵng xa quê những tháng ròng
Đâu thuốc làm người thôi nỗi nhớ
Đây lòng hỏi bạn vẫn chờ mong
Non Kê trăn dẻ trùm làng xóm
Đầu ngựa thơ đàn rộn núi sông
Chẳng sánh chim con nuôi mẹ được
Tử Dư, thán phục để trong lòng

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Nhũ mẫu già, tóc bạc lưng còng,
Rời quê nay đã mấy trăng tròn,
Có thuốc làm người thôi luyến nhớ?
Trộm hỏi cố nhân tả nỗi lòng.
Quê núi Kê Sơn đầy trăn, dẻ,
Nhàn du đầu ngựa rộn thơ đàn.
Mớm mồi nuôi mẹ chim đâu sánh,
Bên xe thán phục Tử Dư lòng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời