Đề Nam Nhạc Hành Sơn

Tam thập dư tuyền thất thập phong
Phong liên Dực Chẩn ý trường không
Yên hoành phi bộc khâm Hồi Nhạn
Vân quyện hương đằng ngột Chúc Dung
Ngu hậu tích lưu thiên thụ nguyệt
Lân tàn tình đối bán khê phong
Thuý gian khước ái nam chi điểu
Hiến hoản kiều nghênh cố quốc ông

 

Dịch nghĩa

Hơn ba mươi suối, bảy mươi ngọn núi cao
Núi liền núi chạy dài về khoảnh trời phương Nam
Làn khói mỏng bay ngang dòng thác dựng trên núi Hồi Nhạn
Mây cuộn như dây thừng trên đỉnh Chúc Dung
Dấu tích của vua Thuấn còn lưu lại dưới ánh trăng soi trên ngàn cây
Một mảnh trời sáng rớt lười biếng trông xuống nửa dòng khe lộng gió
Giữa ngàn xanh chợt yêu nhớ chim Việt đậu cành nam
Dịu dàng luyến tiếc chào đón các ông già ở nước cũ


Nguồn: Mặc Trai sứ tập, NXB Văn học, 2009

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Nho Hồng

Non hơn bảy chục, suối ba mươi
Dực Chẩn vời xa tận cuối trời
Hồi Nhạn khói bay ngang thác đổ
Chúc Dung mây cuộn tựa thừng rơi
Mảnh trời gió lộng khe dòng chảy
Tích Thuấn trăng soi ánh sáng ngời
Chim Việt cành Nam sao bỗng nhớ
Lão ông cố quốc, đón chào người

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Tú Anh

Hơn ba mươi suối, bảy mươi non
Trùng điệp trời Nam, xếp xếp hòn
Hồi Nhạn khói lan vờn ngọn thác
Chúc Dung mây cuộn tết thừng son
Dấu xưa vua Thuấn, trăng lưu chút
Mảng sáng trời kia, suối mãi còn
Chim Việt cành Nam, ngàn dặm nhớ
Ông già nước cũ, nhớ nào hơn!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Non bảy mươi ngọn suối ba mươi,
Núi liền phương Nam tận cuối trời.
Hồi Nhạn khói bay dòng thác đổ,
Chúc Dung mây cuộn đỉnh thừng rơi.
Vua Thuấn ngàn cây lưu dấu tích,
Dòng khe lộng gió một mảnh trời.
Chim Việt cành nam nay bỗng nhớ,
Nước cũ dịu dàng chào đón người.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời