45.00
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
6 bài trả lời: 5 bản dịch, 1 thảo luận
1 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 25/10/2005 20:06

壯遊

往昔十四五,
出遊翰墨場。
斯文崔魏徒,
以我似班揚。
七齡思即壯,
開口詠鳳凰。
九齡書大字,
有作成一囊。
性豪業嗜酒,
嫉惡懹剛腸。
脫略小時輩,
結交皆老蒼。
飲酣視八极,
俗物都茫茫。
東下姑蘇臺,
已具浮海航。
到今有遺恨,
不得窮扶桑。
王謝風流遠,
闔廬丘墓荒。
劍池石壁仄,
長洲荷芰香。
嵯峨閶門北,
清廟映迴塘。
每趨吳太伯,
撫事淚浪浪。
枕戈憶勾踐,
渡浙想秦皇。
蒸魚聞匕首,
除道哂要章。
越女天下白,
鑒湖五月涼。
剡溪蘊秀异,
欲罷不能忘。
歸帆拂天姥,
中歲貢舊鄉。
氣劘屈賈壘,
目短曹劉墻。
忤下考功第,
獨辭京尹堂。
放蕩齊趙間,
裘馬頗清狂。
春歌藂臺上,
冬獵青丘旁。
呼鷹皂櫪林,
逐獸雲雪岡。
射飛曾縱鞚,
引臂落鶖鶬。
蘇侯據鞍喜,
忽如攜葛強。
快意八九年,
西歸到咸陽。
許與必詞伯,
賞遊實賢王。
曳裾置醴地,
奏賦入明光。
天子廢食召,
群公會軒裳。
脫身無所愛,
痛飲信行藏。
黑貂不免敝,
斑鬢兀稱觴。
杜曲晚耆舊,
四郊多白楊。
坐深鄉黨敬,
日覺死生忙。
朱門任傾奪,
赤族迭罹殃。
國馬竭粟豆,
官雞輸稻粱。
舉隅見煩費,
引古惜興亡。
河朔風塵起,
岷山行幸長。
兩宮各警蹕,
萬里遙相望。
崆峒殺氣黑,
少海旌旗黃。
禹功亦命子,
涿鹿親戎行。
翠華擁英岳,
螭虎啖豺狼。
爪牙一不中,
胡兵更陸梁。
大軍載草草,
凋瘵滿膏肓。
備員竊補袞,
懮憤心飛揚。
上感九廟焚,
下憫萬民瘡。
斯時伏青蒲,
廷爭守御床。
君辱敢愛死,
赫怒幸無傷。
聖悊體仁恕,
宇縣復小康。
哭廟灰燼中,
鼻酸朝未央。
小臣議論絕,
老病客殊方。
郁郁苦不展,
羽翮困低昂。
秋風動哀壑,
碧蕙捐微芳。
之推避賞從,
漁父濯滄浪。
榮華敵勛業,
歲暮有嚴霜。
吾觀鴟夷子,
才格出尋常。
群凶逆未定,
側佇英俊翔。

 

Tráng du

Vãng tích, thập tứ ngũ.
Xuất du hàn mặc trường.
Tư văn Thôi Nguỵ đồ,
Dĩ ngã tự Ban Dương.
Thất linh tứ tức tráng,
Khai khẩu vịnh phụng hoàng.
Cửu linh thư đại tự,
Hữu tác thành nhất nang.
Tính hào, nghiệp thị tửu,
Tật ố hoài cương trường.
Thoát lược tiểu thì bối,
Kết giao giai lão thương.
Ẩm hàm thị bát cực,
Tục vật đô mang mang.
Đông há Cô Tô đài,
Dĩ cụ phù hải hàng.
Đáo kim hữu di hận,
Bất đắc cùng Phù Tang.
Vương Tạ phong lưu viễn,
Hạp Lư khâu mộ hoang.
Kiếm Trì thạch bích trắc,
Trường Châu hà kỵ hương.
Tha nga Xương Môn bắc,
Thanh miếu ánh hồi đường.
Mỗi xu Ngô Thái Bá,
Phủ sự lệ lang lang.
Chẩm qua ức Câu Tiễn,
Độ Chiết tưởng Tần Hoàng.
Chưng ngư văn chuỷ thủ,
Trừ đạo sẩn yêu chương.
Việt nữ thiên hạ bạch,
Giám hồ ngũ nguyệt lương.
Diễm khê uẩn tú dị,
Dục bãi bất năng vương.
Quy phàm phất Thiên Mụ,
Trúng tuế cống cựu hương.
Khí my Khuất Giả luỹ,
Mục đoản Tào Lưu tường.
Ngỗ hạ khảo công đệ,
Độc từ kinh doãn đường.
Phóng đãng Tề Triệu gian,
Cừu mã phả thanh cuồng.
Xuân ca Tùng Đài thượng,
Đông lạp Thanh Khâu bàng.
Hô ưng Tạo Lịch lâm,
Trục thú Vân Tuyết cương.
Xạ phi tằng túng khống,
Dẫn tý lạc thu thương.
Tô hầu cứ yên hỉ,
Hốt như huề Cát Cường.
Khoái ý bát cửu niên,
Tây quy đáo Hàm Dương.
Hứa dữ tất từ bá,
Thưởng du thực hiền vương.
Duệ cứ trí lễ địa.
Tấu phú nhập Minh Quang.
Thiên tử phế thực triệu,
Quần công hội hiên thường.
Thoát thân vô sở ái,
Thống ẩm tín hành tàng.
Hắc điêu bất miễn tệ,
Ban mấn ngột xứng trường.
Đỗ khúc vãn kỳ cựu,
Tứ giao đa bạch dương.
Toạ thâm hương đảng kính,
Nhật giác tử sinh mang.
Chu môn nhiệm khuynh đoạt,
Xích tộc điệt duy ương.
Quốc mã kiệt túc đậu,
Quan kê thâu đạo lương.
Cử ngung kiến phiền phí,
Dẫn cổ tích hưng vong.
Hà sóc phong trần khởi,
Mân sơn hành hạnh trường.
Lưỡng cung các cảnh tất,
Vạn lý dao tương vương (vọng).
Không Động sát khí hắc,
Thiếu Hải tinh kỳ hoàng.
Vũ Công diệc mệnh tử,
Trác Lộc thân nhung hàng.
Thuý hoa ủng Ngô nhạc,
Ly hổ đạm sài lang.
Trảo nha nhất bất trúng,
Hồ binh cánh lục lương.
Đại quân tải thảo thảo,
Điêu sái mãn cao hoang.
Bị viên thiết bổ cổn,
Ưu phẫn tâm phi dương.
Thượng cảm cửu miếu phần,
Hạ mẫn vạn dân sang.
Tư thì phục thanh bồ,
Đình tranh thủ ngự sàng.
Quân nhục cảm ái tử,
Hách nộ hạnh vô thương.
Thánh triết thể nhân thứ,
Vũ huyện phục tiểu khang.
Khốc miếu hôi tẫn trung,
Tị toan triều Vị Ương.
Tiểu thần nghị luân tuyệt,
Lão bệnh khách thù phương.
Uất uất khổ bất triển,
Vũ cách khốn đê ngang.
Thu phong động ai hác,
Bích huệ quyên vi phương,
Chi Thôi tị thưởng tòng,
Ngư phủ trạc Thương Lang,
Vinh hoa địch huân nghiệp,
Tuế mộ hữu nghiêm sương.
Ngô quan Chi Di Tử,
Tài cách xuất tầm thường.
Quần hung nghịch vị định,
Trắc trữ anh tuấn tường.

 

Dịch nghĩa

Xưa ta mười bốn, mười lăm tuổi,
Đã ra đi lại trong làng bút mực
Hạng nhà văn như Thôi, Nguỵ,
Ví ta với Ban, Dương.
Năm lên bảy, ý tứ đã mạnh mẽ,
Mở miệng làm thơ vịnh phượng hoàng.
Lên chín viết được chữ cỡ lớn,
Sáng tác thành một phong cách riêng.
Tính hào phóng, lại mê thích rượu,
Ghét thói xấu, lòng ngay thẳng cứng cỏi.
Đi lại qua loa với bạn bè thuở bé,
Kết giao với những người tóc hoa râm.
Uống say, nhìn ra tám cõi,
Thấy mênh mông toàn những thứ tầm thường.
Phía đông xuống đài Cô Tô,
Định dong buồm vượt biển khơi.
Đến nay chỉ còn một điều ân hận:
Chưa đến tận cùng xứ Phù Tang.
Vẻ phong lưu Vương Tạ qua lâu rồi,
Nấm mồ Hạp Lư hoang vu.
Vách đá Kiếm Trì nghiêng đổ,
Sen ấu Trường Châu còn thơm.
Phía bắc Xương Môn cao ngất.
Thanh Miếu lồng bóng xuống nước ao.
Mỗi lần đến viếng Ngô Thái Bá,
Ngẫm chuyện cũ chứa chan dòng lệ
Gối ngọn giáo nhớ Câu Tiễn,
Qua sông Chiết nghĩ đến Tần Thuỷ Hoàng.
Nghe chuyện giấu dao trong cá chín
Cười người treo ấn để lộ ngang lưng.
Gái Việt trắng trẻo nhất thiên hạ,
Tháng Năm, nước Kính hồ vẫn mát,
Khe Diễm đẹp đẽ khác thường.
Ra về không thể nào quên được!
Cõi thuyền về ngang qua núi Thiên Mụ,
Đúng vào năm quê nhà tiến cử cống sĩ.
Chí khí át cả đồn luỹ Khuất Giả,
Mắt xem thường tường vách Tào Lưu.
Vì trái ý quan chấm thi nên hỏng,
Một mình rời công đường quan kinh doãn,
Rong chơi trong vùng Tề Triệu.
Mặc áo cừu cưỡi ngựa, ngóng mà thanh cao.
Mùa xuân, hát trên Tùng Đài,
Mùa đông, săn ở Thanh Khâu.
Hò như chim cắt rừng Tạo Lịch,
Chạy đuổi thú gò Vân Tuyết.
Phi ngựa buông cương mà bắn.
Giơ tay lên là chim thu thương rơi
Ông Tô Dự níu yên tấm tắc khen,
Bỗng như thấy đi cùng Cát Cương.
Tám chín năm sống sảng khoái,
Rồi đi về tây đến Hàm Dương.
Kết bạn văn chương đều là từ bá,
Chơi bời đi lại toàn là bậc hiền vương.
Mặc áo thụng đến nơi sang trọng,
Dâng bài phú vào đền Minh Quang.
Đức vua bỏ ăn ra vời đón,
Các nhà quyền quý vời vào hội áo mũ xênh xang.
Nhưng ra đi không giữ lại được gì,
Uống say, phó mặc hành tàng cho tự nhiên.
Áo điêu đen chẳng khỏi có lúc rách,
Tóc hoa râm càng ngất ngưỡng chuốc chén.
Xóm Đỗ, lớp già cả đã đổi thay,
Ngoài đồng, cây bạch dương nhiều hơn.
Ngồi lâu được xóm làng kính nể,
Thấy chuyện sống chết hàng ngày mà bàng hoàng.
Cửa son mặc chèn ép cướp đoạt nhau,
Rồi lần lượt bị giết cả ba họ!
Ngựa vua ăn nhẵn thóc đậu,
Gà quan thu hết nếp kê.
Nêu đôi việc để thấy sự quấy nhiễu, hao tốn;
Dẫn chuyện xưa để thương cuộc phế hưng
Gió bụi nổi lên ở Hà Bắc,
Vua chạy dài ra Mân Sơn.
Hai cung đều giới nghiêm,
Cách xa muôn dặm ngóng trông nhau.
Ở Không Động, sát khí mờ mịt,
Ở Thiếu Hải, cờ quạt vàng hoe.
Cùng nhường ngôi cho con như Hạng Vũ,
Cũng thân đi đánh dẹp như việc Trác Lộc.
Cờ tán che rợp cùng Ngô Nhạc,
Rồng cọp lăm nuốt cáo cầy.
Một phen giơ nanh vuốt vồ không trúng.
Khiến giặc Hồ càng bướng bỉnh hơn.
Quân triều đình nhọc nhằn đánh dẹp.
Cảnh điêu tàn như bệnh đã nguy ngập
Tự nghĩ mình lạm dự vào hàng quan giúp vua.
Nên lòng dấy lên nỗi lo lắng, căm giận
Trên cảm vì chín miếu cháy tan,
Dưới thương xót muôn dân đau khổ
Lúc ấy phủ phục dưới chiếu thanh bồ,
Bên giường vua dâng lời can gián
Vua nhục, mình đâu dám sợ chết,
Nhưng may cơn giận cũng không can gì!
Bậc thánh triết giàu lòng khoan thứ,
Đất nước được tạm yên vui.
Khóc trước miếu trong đống tro tàn,
Cay mùi sụt sùi vào chầu cung Vị Ương.
Chức quan nhỏ hết đường ăn nói,
Già bệnh lại lưu lạc phương xa.
Lòng ấm ức khổ vì không giải bày được,
Lông cánh bị bó buộc khó tung bay.
Gió thu thổi xao xuyến khe núi não nùng,
Huệ xanh gượng toả mùi thơm yếu ớt.
Chi Thôi tránh ban thưởng công theo vua,
Ông chài giặt rửa bên sông Thương Lương
Khi vinh hoa đã lên ngang huân nghiệp,
Thì như năm tàn đầy sương gió.
Ta xem ông Chi Di,
Tài ba cốt cách vượt thói thường.
Bọn phản nghịch hung tàn chưa dẹp yên,
Hãy nép mình cho kẻ hào kiệt bay nhảy.


(Năm 766)

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Cao Nguyên

Nhớ khi còn niên thiếu
Học đòi thú văn chương
Các ông Thôi, ông Nguỵ
Ví ta với Ban, Dương
Bảy tuổi có khí lự
Làm thơ vịnh Phượng Hoàng
Chín tuổi viết đại tự
Văn chương đã ngang tàng
Tính hào khoáng ưa rượu
Lòng ngay, ghét xỏ xiên
Xa dần bạn thơ ấu
Kết giao bậc trưởng niên
Uống say nhìn tám cõi
Kẻ tục cứ như rươi
Cô Tô đài đông tiến
Rắp chí vượt biển khơi
Đến nay còn mang hận
Chưa đến xứ Phù Tang
Đã tàn rồi Vương, Tạ
Mộ Hạp Lư bỏ hoang
Thành Kiếm Trì nghiêng ngả
Sen Trường Châu vẫn thơm
Bắc Cửa Xương vòi vọi
Thanh miếu soi bóng gương
Mỗi lần thăm Ngô Bá
Ôn việc xưa, lệ tuôn
Gối giáo, nhớ Câu Tiễn
Qua sông, tưởng Tần Vương
Được nghe mẹo thích khách
Trách kẻ không nhún nhường
Vinh quy mặc áo rách
Khoe với bọn dẹp đường
Gái Việt, nhất thiên hạ
Hồ Gương mát quanh năm
Khe Diễm đẹp kỳ lạ
Muốn quên không thể quên
Giong buồm về Thiên Mỗ
Ứng thí nơi quê xưa
Át họ Khuất, họ Giả
Coi thường bọn Tào,Lưu
Trái ý quan Khảo thí
Bảng vàng tên chẳng ghi
Một mình biệt quan Doãn
Khắp Tề, Triệu ta đi
Mặc áo cừu, cưỡi ngựa
Ngông cuồng mà thanh cao
Xuân lên Tùng Đài hát
Đông săn tại Thanh Khâu
Nhử chim vùng Tạo Lịch
Rượt thú trên non cao
Xạ tiễn trên lưng ngựa
Buông cung chim rụng nhào
Tô Dự khen tấm tắc
Cát Cương cũng đi theo
Tám chín năm thoải mái
Sang phía tây Hàm Dương
Luận cùng bậc đại sĩ
Giao kết đấng hiền vương
Mặc áo thụng dự tiệc
Dâng phú đền Minh Quang
Thiên tử vời hỏi việc
Công khanh dự cùng hàng
Lâng lâng không vướng bận
Tỉnh say mặc, hành, tàng
Áo cừu mặc đến rách
Tóc bạc vẫn lang thang
Người già nơi quê cũ
Thay đổi hàng bạch dương
Sống lâu lên chức cụ
Sinh tử càng thêm thương
Cửa quyền còn đâm thọc
Mang hoạ cả ba đời
Ngựa vua ăn hết thóc
Gà quan mổ lúa vơi
Kể sơ mọi phiền phức
Dẫn chuyện xưa xót xa
Hưng vong theo thời cuộc
Hà Bắc nổi can qua
Mân Sơn vua xa giá
Hai vua đóng hai cung
Muôn dặm xa cùng ngóng
Không Động khí chập chùng
Thiếu Hải cờ rợp bóng
Hạ Vũ truyền ngôi vương
Thân chinh đánh Trác Lộc
Anh Nhạc tàn che rợp
Rồng hổ nuốt sài lang
Giương nanh vuốt vồ hụt
Giặc Hồ lại xâm lăng
Quan quân sức lực kiệt
Khắp nơi cảnh điêu tàn
Vì đã ăn lộc nước
Giận lo chẳng chu toàn
Trên thương lương miếu cháy
Dưới xót dân ly tan
Phục mình nơi chiếu ngự
Xin dâng vua lời can
Vì nhục nước liều chết
Lôi đình rồi cũng tan
Thánh quân lòng khoan thứ
Đất nước lại bình an
Đứng trên đống tro tàn
Khóc thương cho lăng miếu
Vào chầu cung Vị Ương
Bé họng lại thấp cổ
Già ốm kiếp tha hương
Uất ức không dám tỏ
Khó bề vượt đại dương
Gió thu vi vút ngõ
Huệ tàn chút dư hương
Nhớ Chi Thôi người cũ
Phò vua chẳng nhận lương
Về theo ông Ngư phủ
Giặt mũ trên sông Thương
Vinh hoa bù công nghiệp
Khi đông lạnh hơi sương
Ta xem Chi Di Tử
Người tài tuấn khác thường
Khi còn bọn hung dữ
Hào kiệt nợ vẫn vương

14.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Xưa khoảng mười lăm tuổi,
Chốn thơ văn đến thường.
Những là Thôi với Nguỵ,
Ví mỗ cỡ Ban Dương.
Bảy tuổi ý hùng tráng,
Ngâm chơi bài Phụng Hoàng.
Chữ to, viết chín tuổi,
Tác phẩm chất đầy rương.
Mê rượu lại hào phóng,
Ghét tà, lòng quật cường.
Nghỉ chơi bạn thưở nhỏ,
Giao kết giới đầu sương.
Cõi tục miên man trải,
Say nhìn ra tám phương.
Cô Tô, đông hướng xuống,
Thuyền sẵn, vượt trùng dương.
Nhật Bổn giờ chưa đến,
Hận lòng cứ mãi vương.
Tạ vương xưa phát đạt,
Mộ Hạp Lư tan thương.
Hồ Kiếm nghiêng tường đá,
Trường Châu sen ngát hương.
Bắc Xương Môn chót vót,
Thanh Miếu lộng làn gương.
Thái Bá mỗi lần viếng,
Việc xưa lệ đẫm sương.
Gối đao, nhớ Việt Tiễn,
Sông Chiết, tưởng Tần Hoàng.
Cá hấp, dao găm lận,
Ấn đeo, nhạo quét đường.
Tháng năm, hồ gươm mát,
Gái Việt trắng khôn dường.
Khe Thiệm cỏ cây tốt,
Muốn đi,lòng vấn vương.
Núi Thiên buồm lại phất,
Quê cũ về thi hương.
Khí toả thành Nguyên Nghị,
Tào Lưu trông bé tường.
Ý sai nên hỏng tuột,
Từ Phủ Doãn lên đường.
Tề Triệu thong dong dạo,
Sướng điên, sạch áo cương.
Xuân, lầu tùng hát phóng,
Đông, bẩy thú bên nương.
Tạo Lịch, hô điêu đến,
Đuổi săn gò Tuyết Cương.
Lỏng tay, ngựa lướt vó,
Cung thả, rớt thu thương.
Yên vịn, Tô Hầu thích,
Chợt như dắt Cát Cương.
Tám năm hơn đắc ý,
Tây đến thành Hàm Dương.
Kết bạn toàn thi bá,
Hiền nhân du ngoạn thường.
Vạt lê nơi rượu lễ,
Phú tấu trước Minh Đường.
Bỏ bửa vua vời tiếp,
Quan, xe áo đón nhường.
Thân lui, gì chả nhận,
Xuất xử, uổng đau thương.
Áo chuột có ngày cũ,
Bạc đầu đối rượu suông.
Già làng Đỗ đã đổi,
Bốn phía trắng hàng dương.
Ngồi nghĩ sâu, người nể,
Hay sinh tử sát sườn.
Cửa son nhận hoặc bỏ,
Hoạ tộc, máu đào tuông.
Thóc đậu ngựa quan ngốn,
Gà vua nuốt gạo lương.
Khắp nơi buồn phí của,
Ngẫm thịnh suy xưa tường.
Gió bụi mờ Hà Bắc,
Núi Dân vua mãi bương.
Hai cung ban giới lệnh,
Vạn dặm ngóng đôi đường.
Thiếu Hải vàng cờ phướng,
Không Đồng sát khí giương.
Truyền ngôi theo Vũ Đế,
Trác Lộc, chung quân trường.
Cờ thuý hướng Ngô Nhạc,
Sói lang, rồng hổ đương.
Vuốt nanh vồ chộp hụt,
Hồ tặc càng ngông cuồng.
Quân chúa giờ cơ cực,
Bệnh như ngấm tuỷ xương.
Sung quan, hòng giúp chúa,
Tim vọt, giận khôn lường.
Chín miếu thiêu, trên xót,
Vạn dân khốn, dưới thương.
Bây giờ quỳ chiếu cỏ,
Can tấu trước quân vương.
Vua nhục tôi mong chết,
Căm, không nỡ sát thương.
Khoan từ, vua thánh triết,
Thiên hạ tạm bình thường.
Khói miếu tàn tro bụi,
Mũi cay chầu Vị Ưong.
Tiểu thần không thuyết được,
Già bệnh, khách tha phương.
Uất ức sao bày tỏ,
Thấp cao cánh hết giương.
Gió thu lùa động thảm,
Huệ biếc bớt đưa hương.
Thôi Tử trốn ban thưởng,
Lão chài rửa nước Thương.
Vinh hoa đổi sự nghiệp,
Năm hết bời bời sương.
Phạm Lãi ta từng xét,
Đức tài thật khác thường.
Nghịch hung chưa dẹp hết,
Vùng vẫy đợi tôi lương.

15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Nhớ xưa mười bốn tuổi
Đi lại chốn văn chương
Danh sĩ như Thôi, Nguỵ
Sánh ta với Ban, Dương
Lên bảy ý hùng mạnh
Làm thơ vịnh phượng hoàng
Lên chín, viết chữ lớn
Thơ văn riêng một đường
Hào phóng mà mê rượu
Thẳng ngay ghét thói thường
Xa lánh bạn hồi nhỏ
Kết giao hạng tóc sương
Uống say nhìn tám cõi
Chỉ thấy những đồ xoàng
Đông nhắm Cô Tô xuống
Dong buồm vượt đại dương
Đến nay còn mối hận
Chưa tới được Phù Tang
Vương Tạ phong lưu hết
Hạp Lư nấm cỏ hoang
Đá nát trơ thành Kiếm
Hương thơm nức xứ Trường
Xướng Môn cao ngất mái
Thanh Miếu nước lồng gương
Viếng thăm Ngô Thái Bá
Chuyện cũ lệ ngùi thương
Gối giáo mơ Câu Tiễn
Qua sông tưởng Thuỷ Hoàng
Nghe chuyện dao mình cá
Cười người lưng ấn chương
Nõn nà con gái Việt
Mát mẻ nước hồ Gương
Khe Diễm trông thanh tú
Ra về cứ vấn vương
Buồm thẳng xuôi Thiên Mụ
Vừa đến tuổi thi hương
Nguỵ Nguyên thua khí mạnh
Trinh Thục cũng tài thường
Hỏng vì trái giám khảo
Một mình giã phủ đường
Tề Triệu rong chơi khắp
Cừu mã cứ thanh cuồng
Thanh Khâu đông săn thú
Tùng Đài xuân hát vang
Nhữ ưng rừng Tạo Lịch
Đuổi thú núi Vân Cương
Buông dây phi ngựa bắn
Tay vẫy rớt thu thương
Tô Dự vỗ yên ngợi
Khác chi được Cát Cường
Tám chín năm thong thả
Tây lại tới Hàm Dương
Thưởng văn, hàng thúc bá
Kết bạn, bậc hiền vương
Dự yến nơi quyền quý
Dâng phú điện Minh Quang
Công khanh xe ngựa họp
Bỏ bữa vua vời thường
Ra đi là hết cả
Cứ rượu, mặc hành tàng
Điêu cừu sao khỏi rách
Uống cho tóc điểm sương
Xóm Đỗ thay kỳ cựu
Ngoài đồng lắm bạch dương
Sống lâu ra lão đại
Còn mất thấy bàng hoàng
Cửa son đầy cướp đoạt
Ba họ phải tai ương
Ngựa vua ăn đậu hết
Gà chọi ngốn kê vàng
Ngoài ra bao phí tổn
Hưng phế nghĩ mà thương
Gió bụi mờ Hà Bắc
Vua lánh tới Mân Phương
Hai cung đều giới cấm
Trông ngóng vạn thôi đường
Không Đồng sát khí rợp
Thiếu Hải tinh kỳ trương
Vũ Công truyền đế vị
Trác Lộc dẹp biên cương
Lọng cờ che đỉnh núi
Rồng cọp nuốt đầy chương
Nanh vuốt giương vồ trượt
Giặc Hồ thêm quật cường
Quân triều càng mỏi mệt
Như bệnh thấm vào xương
Đã làm quan giúp nước
Lòng cứ mãi lo lường
Trên buồn chín miếu cháy
Dưới xót vạn dân thường
Quỳ gối tâu trên chiếu
Dâng lời can trước giường
Nhục vua, đâu sợ chết
May sấm sét còn nương
Nhân thứ lòng minh triết
Non sông lại thái khương
Tro tàn khóc trước miếu
Sụt sùi chầu Vị Ương
Chức nhỏ khó bàn bạc
Già ốm lại tha phương
Bó tay lòng ấm ức
Lông cánh bực khôn giương
Hang hốc hơi thu quyện
Huệ biếc nhả thừa hương
Chi Thôi từ thưởng lộc
Như phủ rửa sông Thương
Vinh hiển ngang huân nghiệp
Năm tàn lạnh lẽo sương
Ta xem ông Phạm Lãi
Tài cách vốn phi thường
Chưa dẹp xong hung bạo
Nhường anh tuấn đảm đương


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Nhớ xưa, mười bốn mười lăm,
Nơi trường bút mực xăm xăm bước vào.
Nguỵ, Thôi, đánh giá thật cao,
Bảo ta đâu có khác nào Ban, Dương.
Ý, từ bẩy tuổi cang cường,
Phượng Hoàng, mở miệng đã thường vịnh ngâm.
Chữ to, chín tuổi dự phần,
Văn thơ sắc thái khác văn thuở nào.
Rộng lòng, lượng rượu lại cao,
Ghét cay kẻ ác, lúc nào cũng ngay.
Bạn thời thơ ấu, đổi thay,
Kết thân cùng với những tay tuổi già.
Uống say, nhìn tám hướng xa,
Tầm thường, mọi vật sao mà mênh mông.
Đài Cô Tô, xuống phía đông,
Dong thuyền vượt biển quyết lòng ra khơi.
Đến nay còn hận xuốt đời,
Phù Tang, chẳng được đến chơi xứ người.
Phong lưu, Vương, Tạ, xa rồi,
Hạp Lư, gò mộ nay thời bỏ hoang.
Kiếm Trì, tường đá điêu tàn,
Trường Châu, sen, ấu, hương đang thơm nồng.
Xương Môn, hướng bắc cao trông,
Miếu Thanh soi bóng trên dòng nước trong.
Nhớ Ngô Thái Bá, thăm ông,
Việc xưa nhìn lại, hai dòng lệ tuôn.
Gối gươm, Câu Tiễn, nhớ luôn,
Tần Hoàng, sông Chiết, lại buồn cho ông.
Dấu dao cá hấp nghe không,
Quét đường, thấy ấn đeo hông, tức cười.
Trắng da, gái Việt nhất đời,
Giám Hồ, mát mẻ vào thời tháng Năm.
Diễm Khê, đẹp đẽ ghé thăm,
Muốn thôi, sao vẫn nhùng nhằng chưa quên.
Buồm về, Thiên Mụ ngay bên,
Giữa năm, Hương Cống thi miền quê xưa.
Khí ngang Khuất, Giả, đâu vừa,
Tào, Lưu, tường ấy thấy chưa cao gì.
Làm sai ý, hỏng kỳ thi,
Phủ đường Kinh doãn ra đi một mình.
Rong chơi Tề, Triệu, thoả tình,
Áo cừu, ngựa tốt, nghĩ mình cuồng ngông
Tùng Đài, xuân hát thoả lòng,
Thanh Khâu, săn bắn trong vòng mùa đông.
Trong rừng Tạo Lịch săn ưng,
Đuổi nai, Vân Tuyết, trên vùng núi cao.
Buông cương, bắn chẳng có sao,
Dương cung, thả nhẹ, ngỗng nào không rơi.
Ông Tô níu ngựa mỉm cười:
Tưởng như đang đứng bên người Cát Cương.
Sướng vui tám chín năm trường,
Phía tây, lại hướng Hàm Dương đi về.
Bạn cùng thi bá sành nghề,
Vương hầu, Hiền triết, rủ rê chơi cùng.
Áo dài, rượu quý, ngồi chung,
Quang Minh, phú được tâu cùng nhà vua.
Triệu vào, vua bỏ ăn trưa,
Công khanh gặp gỡ xe xua áo quần.
Ra về không nhận một ân,
Uống say chẳng thiết ẩn thân hay làm.
Áo điêu cũ đã rách màng,
Muối tiêu mái tóc, rượu đang ly đầy.
Lão già xóm Đỗ đổi thay,
Ngoại ô, bốn phía trồng đầy bạch dương.
Sống lâu, thôn xóm kính nhường,
Mỗi ngày, sống chết, thấy đương vội vàng.
Cửa son, mặc ý chiếm ngang,
Giết luôn ba họ, hoạ đang đến dần.
Ngựa ăn hết lúa đậu dân,
Gà vua, cũng phải nạp phần gạo kê.
Dân phiền, tổn phí mọi bề,
Tích xưa đã nói rõ về thịnh suy.
Loạn từ Hà Bắc khởi đi,
Núi Mân ở lại thời kỳ dài lâu.
Hai cung nghiêm ngặt bắt đầu,
Xa xăm vạn dặm ngóng nhau từng ngày.
Không Đồng sát khí mù bay,
Miền đông, Thiếu Hải, gió lay cờ vàng.
Truyền ngôi, Hạng Vũ đã làm,
Thân như Trác Lộc, coi hàng ngũ quân.
Thuý Hoa, Ngô Nhạc đóng gần,
Hăm he mãnh hổ thịt dần sói lang.
Vuốt nanh vồ trượt bẽ bàng,
Quân Hồ được thế, lại càng hung hăng.
Đại quân cực khổ ai bằng,
Điêu tàn như bệnh càng tăng mỗi ngày.
Làm quan vô dụng lúc này,
Lo và căm phẫn tim lay phập phồng.
Chín lăng bị đốt sạch không,
Vạn dân thương tích, trong lòng cảm thương.
Chiếu bồ, ta phục bất thường,
Lựa lời can gián bên giường tâu vua.
Nhục vua, có chết cũng vừa,
Bừng bừng tức giận, may chưa chém đầu.
Vua thường khoan thứ từ lâu,
Người dân lại được bắt đầu yên thân.
Miếu lăng tro bụi, khóc thầm,
Vị Ương, cay đắng đem thân vào chầu.
Tiểu thần thôi nói từ lâu,
Già và bệnh hoạn sống đâu quê người.
Uất không được nói ra lời,
Cột, chim không thể tung trời bay cao.
Gió thu, hang núi buồn sao,
Huệ xanh phảng phất, ai nào thiết đâu.
Chi Thôi, khen thưởng chẳng cầu,
Ngư ông rửa ráy nơi đầu Thương Lương.
Vinh hoa, tình đổi là thường,
Như năm đã hết đầy đuờng tuyết sương.
Thấy ông Phạm Lãi, thật thương,
Tài năng, phong cách khác thường người ta.
Quân hung nghịch, chửa dẹp mà,
Chờ mong anh tuấn đứng ra giúp đời...

15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Nhớ thuở tuổi niên thiếu,
Đi lại chốn văn chương.
Bọn các ông Thôi, Nguỵ,
Coi ta như Ban, Dương.
Bảy tuổi ý đã vững,
Mở miệng ca phượng hoàng.
Chín tuổi viết chữ lớn,
Hành văn có đặc trưng.
Tính phóng khoáng ưa rượu,
Lòng ghét thói lật lường.
Tránh xa bạn thuở nhỏ,
Kết bạn tóc nhuốm sương.
Uống say nhìn tám phía,
Đời tục sao mênh mang.
Đông đài Cô Tô tới,
Có chí vượt đại dương.
Tới nay còn ân hận,
Chẳng đến được Phù Tang.
Vương, Tạ phong lưu khuất,
Hạp Lư: nấm mồ hoang.
Thành Kiếm Trì xiêu vẹo,
Sen Trường Châu nức hương.
Bắc Xương Môn vòi vọi,
Toà Thanh Miếu lồng gương.
Nghĩ đến Ngô Thái Bá,
Việc cũ lệ hai hàng.
Gối kiếm, nhớ Câu Tiễn,
Qua sông tưởng Thuỷ Hoàng.
Nghe dao dấu bụng cá,
Cười ấn loè bên đường.
Đẹp tuyệt trần gái Việt,
Mát tháng năm, hồ Gương.
Diễm Khê nước non lạ,
Khi về còn vấn vương.
Cánh buồm lướt Thiên Mụ,
Vừa dịp kỳ thi hương.
Khí: Khuất, Giả ăn đứt,
Lòng: Tào, Lưu coi thường.
Giám khảo không vừa ý,
Âm thầm lánh sảnh đường.
Rong chơi vùng Tề, Triệu,
Ăn mặc thật ngang tàng.
Đài Tùng, mùa xuân vịnh,
Gò Thanh săn mùa đông.
Rừng Trám Đen thả cắt,
Đỉnh tuyết đuổi thú hoang.
Phi ngựa, buông cương bắn,
Tên vèo: chết thu thương.
Tô hầu vịn yên khoái,
Tưởng như giắt Cát Cường.
Tám chín năm thoả ý,
Phía tây tới Hàm Dương.
Thưởng văn toàn tay giỏi,
Giao du cùng hầu vương.
Áo dài dự lễ lớn,
Dâng phú điện Minh Quang.
Vua quên bữa cho gọi,
Cùng các quan xênh xang.
Lúc rời hai tay trắng,
Say vùi, mặc hành, tàng!
Áo cừu nào lành mãi,
Rượu hoài tóc điểm sương.
Đỗ Khúc nay khác trước,
Bốn bên đầy bạch dương.
Ở lâu hàng xóm trọng,
Sống, chết ngày hoang mang.
Cửa son cứ dành giật,
Cả họ mắc tai ương.
Ngựa vua ngốn thóc đậu,
Gà quan xơi đạo lương.
Nêu một rõ trăm tật,
Ôn xưa hiểu hưng vong.
Hà Bắc nổi gió bụi,
Mân Sơn lánh khỏi vòng.
Hai cung đều nghiêm cấm,
Vạn dặm cùng ngóng trông.
Không Đồng khí độc bốc,
Thiếu Hải cỏ uá vàng.
Hạ Vũ truyền ngôi báu,
Trác lộc, dự chiến trướng.
Cờ lọng che rợp núi,
Hổ báo nuốt sài lang.
Nanh vuốt vồ mồi hụt,
Rợ Hồ càng ngược ngang.
Quân ta đã kiệt sức,
Điêu tàn bệnh thấu xương.
Làm quan tất phò chúa,
Lo, giận lòng bừng bừng.
Trên e chín miếu trụi,
Dưới nghĩ vạn dân thương.
Lúc đó quì trên chiếu,
Can gián tận ngai vàng.
Vua nhục, há sợ chết,
Nổi giận, thoát tai ương.
Chí tôn vốn rộng lượng,
Làng nước lại khang trang.
Điêu tàn khóc xã tắc,
Sụt sùi chầu Vị Ương.
Phận hèn hết đường nói,
Thân lão lại lang thang.
Tâm can không thể lộ,
Lông cánh hết dọc ngang.
Gió thu lùa hang vắng,
Huệ xanh nhỏ chút hương.
Thưởng công: Chi Thôi tránh,
Lão chài rửa sông Thương.
Vinh quang đạt sự nghiệp,
Đối xử thành lạnh lùng.
Ta coi ông Phạm Lãi,
Tài đức thật phi thường.
Bọn giặc chưa dẹp được,
Thôi chờ bậc ngoan cường!

tửu tận tình do tại
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Xa xưa mười bốn mười lăm tuổi
Đã lại qua trong giới văn chương
Tiên sinh Thôi, Thượng gặp thường
Ví ta hai họ Ban, Dương ngang tài
Bảy tuổi thì thi tài đã khoẻ
Mở miệng thành bài tả phượng hoàng
Chín niên chữ lớn viết xong
Nhiều tờ được cất bên trong túi đầy
Tính tình rộng nhưng hay ham rượu
Ghét kẻ gian, lòng dạ cương cường
Bạn bè thời nhỏ lánh đường
Kết giao với hạng tóc sương đã già
Uống say nhìn ra xa tám hướng
Thấy thế gian hình tượng bao la
Miền đông thăm gác Cô Tô
Đã mua sắm đủ những đồ ra khơi
Đến nay vẫn còn hơi ân hận
Chưa tới nơi cùng tận Phù Tang
Giàu sang đã quá Tạ, Vương
Hạp Lư cổ mộ gò hoang xanh rì
Tường đá ở Kiếm Trì nghiêng đổ
Vườn Trường Châu sen ấu còn thơm
Lầu cao phía bắc Xương Môn
Bóng soi Thanh Miếu in trên ao hồ
Mỗi khi thăm miếu Ngô Thái Bá
Lại chạnh lòng thương nhớ lệ rơi
Gối gươm Câu Tiễn tưởng hoài
Chiết giang qua bến nhớ oai Tần hoàng
Nghe truyện dao giấu trong bụng cá
Lại mỉm cười truyện gã quan ngông
Giám hồ nước mát tháng năm
Các cô gái Việt trắng ngần làn da
Đẹp khác thường cảnh xa suối Diễm
Muốn quên đi là chuyện khó làm
Tiện buồm Thiên Mụ ghé thăm
Gặp khoa hương cống đúng năm quê nhà
Luỹ chí khí vượt xa Khuất Giả
Tường Tào Lưu thấp nhỏ xá chi
Làm bài ngang ngược hỏng thi
Giã từ quan doãn ra đi không lời
Lại tiếp tục rong chơi Tề Triệu
Ngựa, áo lông khá điệu nhưng thanh
Mùa xuân ca hát đài Tùng
Mùa đông săn bắn gò Thanh tưng bừng
Sai bảo chim ó rừng Tạo Lịch
Bắt thú trên Vân Tuyết sườn nương
Bắn chim đang lượn buông cương
Tay vươn lên bắn, chim thương rơi liền
Tô Dự theo sát yên khen ngợi
Bỗng cảm như hình gợi Cát Cường
Chín năm thoải mái chơi rong
Phương tây đi tới Hàm Dương thi đàn
Trao đổi thơ với hàng thi bá
Giao du còn với cả hiền vương
Xênh xang áo thụng hội trường
Phú dâng nơi điện Minh Quang vua vời
Vua bỏ ăn gọi vào bệ kiến
Các quan đều hiện diện tới xem
Ra về không nhận được ân
Uống say đau đớn, làm quan hỏng rồi
Áo lông điêu mặc hoài cũng rách
Tóc hoa râm bên tách rượu đầy
Người già xóm Đỗ đổi thay
Ngoại ô bốn phía mọc đầy cây dương
Sống lâu năm được hàng xóm nể
Hàng ngày nhìn thấy lẽ sống còn
Quan quyền mặc sức rút bòn
Trước sau nhận lãnh tai ương cả nhà
Ngựa nhà vua ăn đà hết đậu
Gà nhà quan mổ gạo sạch trơn
Mới là một góc ưu phiền
Dẫn xưa cổ tích dính liền hưng vong
Đất Hà Bắc nổi cơn gió bụi
Vua chạy dài qua ngả núi Mân
Hai cung ban lệnh giới nghiêm
Xa xôi vạn lý đôi bên ngóng hoài
Núi Không Đồng đen trời sát khí
Thiếu Hải bờ cờ xí hoe vàng
Theo gương vua Vũ truyền vương
Thân chinh Trác Lộc dẹp phường Hung nô
Cờ thuý hoa phủ che Ngô Nhạc
Bọn sói lang bị cọp ăn tươi
Một khi vồ chẳng trúng mồi
Giặc Hồ thoát chết tức thời hung hăng
Đại quân triều chưa giành chiến thắng
Đã xác xơ vì bệnh nặng nề
Nghĩ mình đang Tả thập di
Nên trong lòng dấy nỗi bi ưu phiền
Trên cảm miếu hoàng thiên cháy rụi
Dưới thương dân lụi đụi cơ hàn
Thanh bồ chiếu cỏ vái van
Bên giường vua hiến lời can vụng về
Vua nổi giận, không hề sợ chết
Cũng may không bị giết tức thì
Đức vua thánh triết nhân từ
Nước non lại được từ từ an khang
Đứng khóc trong tro tàn lăng miếu
Chầu Vị Ương mà mũi cay cay
Chức quan đã biếm từ nay
Thân già lại bệnh bị đày phương xa
Lòng uất ức nói ra không hết
Lông cánh tàn chỉ lết là là
Gió thu khuấy động hang xa
Hương thơm huệ biếc toả ra bời bời
Nhận thưởng công Chi Thôi trốn tránh
Bác chài nhàn rửa nhánh sông Thương
Công lao, vinh hiển đối thường
Cuối năm sa đậm khói sương tràn trề
Ta xem người xưa Chi Di Tử
Nhiều tài năng khác hẳn người thường
Dẹp quân phản loạn chưa xong
Hãy nhường hào kiệt có đường nhảy bay.

15.00
Trả lời